Thursday, 19 March 2026

KẺ PHÁ HOẠI

 Phạm đức Thân

Ha Jin

Ha Jin (Hà Kim hay Cáp Kim), tên thật là Xuefei Jin (Kim Tuyết Phi) là nhà thơ phái Mông Lung, nhà văn Mỹ gốc Hoa hiện đại.

Ông sinh năm 1956 tại Liêu Ninh. Năm 1985 ông sang Mỹ học văn chương Anh và năm 1989 chứng kiến cuộc biểu tình và thảm sát ở Thiên An Môn trên truyền hình nên định cư luôn ở Mỹ, vừa viết văn vừa dạy học. Ông chọn viết truyện bằng tiếng Anh để bảo toàn tính toàn vẹn của tác phẩm. Ông được nhiều giải thưởng, nổi tiếng với truyện dài, như Waitng (Đợi Chờ), War Trash (Rác Chiến Tranh), cũng như các tập truyện ngắn, như Under The Red Flag (Dưới Ngọn Cờ Đỏ), Oceans Of Words (Biển Chữ), The Bridegroom (Chú Rể). Ông có bằng Tiến Sĩ và hiện đang dạy văn tại Đại Học Boston.

Truyện ngắn Saboteur (Kẻ Phá Hoại, 1996) kể về một người dân lương thiện bị công an vu cho tội phá hoại, uất ức quá, bèn làm chuyện phá hoại thật cho bõ tức. Nhờ đã sống trong xã hội cộng sản, tác giả có kinh nghiệm miêu tả cụ thể công an cộng sản lạm quyền, láo khoét trắng trợn, đổi trắng thay đen, hành hạ dân thường hiền lành vô tội, có khi chỉ để giải trí .. . Độc giả VN có lẽ thấm thía khi liên hệ với hiện trạng xã hội mình đang sống.

Phạm đức Thân dịch từ nguyên bản English online.
 

Chiu và vợ mới cưới đang ăn trưa tại quảng trường trước Trạm Hỏa Xa Muji. Trên bàn giữa họ là hai chai soda đang sủi bọt nâu, và hai hộp giấy cơm và thịt heo xào dưa chuột. "Chúng ta ăn thôi," ông nói với nàng và bẻ tách đôi đầu đũa dính nhau. Ông gắp một miếng thịt ba chỉ bỏ vào miệng. Khi ông nhai, vài nếp nhăn hình như xuất hiện trên cái cằm thon.

Phía bên phải, tại một bàn khác, hai đồng chí công an xe lửa đang vừa cười vừa uống trà; hình như người trung niên mập mạp đang kể chuyện tiếu lâm với đồng chí trẻ, cao và thân hình lực sĩ. Thỉnh thoảng họ liếc qua bàn Chiu.

Không khi có mùi dưa hấu bị hư nẫu. Vài con ruồi cứ vo ve trên bữa trưa của cặp vợ chồng. Chung quanh hàng trăm người đang hối hả đến sân trạm hoặc bắt xe buýt xuống phố. Người bán thức ăn và trái cây đang chậm rãi, lơ đãng mời khách. Khoảng một tá phụ nữ trẻ, đại diện của khách sạn địa phương, giơ cao tấm bảng trình bày giá cả hàng ngày, chữ viết to bằng bàn tay, như Bữa Ăn Miễn Phí, Có Điều Hòa Không Khí, Trên Sông. Giữa quảng trường đứng một tượng xi măng Mao Chủ Tịch, dưới chân có mấy nông dân đang nghỉ nướng, lưng dựa vào bệ đá cát ấm, mặt quay ra phía trời nắng. Một đàn bồ câu đang đậu trên cánh tay và tay giơ cao của chủ tịch.

Cơm và dưa chuột ngon, và Chiu ăn chậm rãi. Khuôn mặt vàng nhợt nhạt cho thấy sự mệt mỏi. Ông mừng trăng mật đã chấm dứt, ông và cô dâu đang trở về Harbin. Trong thời gian nghỉ hai tuần ông đã lo lắng về lá gan vì ba tháng trước ông đã bị viêm gan cấp tính; ông sợ nó có thể tái phát. Nhưng không có dấu hiệu nghiêm trọng nào mặc dù gan vẫn còn to và dễ tổn thương. Nhìn chung ông hài lòng với sức khỏe của mình, đã có thể chịu đựng căng thẳng của trăng mật; thật vậy ông đang ở giai đoạn hồi phục. Ông nhin cô dâu, đã gỡ cặp kính gọng sợi kim loại mỏng, đang xoa đầu ngón tay trên cuối sống mũi. Mấy giọt mồ hôi lấm tấm trên đôi má nhợt nhạt.

"Em có sao không ?" ông hỏi.

"Em bị nhức đầu. Tối qua em không ngủ ngon."

"Em cần aspirin không?"

"Chưa nặng tới mức đó. Ngày mai Chủ Nhật em có thể ngủ lâu hơn. Đừng bận tâm."

Trong khi họ nói chuyện, công an mập mạp đứng lên và ném một bát trà về phía họ. Giầy của Chiu và cô dâu bị ướt tức thì.

"Đồ lưu manh!" nàng nói khẽ.

Chiu đứng dậy, nói lớn, "Đồng chí công an, tại sao ông lại làm vậy?" Chiu chìa chân phải ra trước cho thấy giầy bị ướt.

"Làm cái gì?" người mập mạp hỏi giọng khàn khàn, nhìn trừng Chiu trong khi đồng nghiệp trẻ huýt sáo.

"Nhìn này, ông đã đổ nước lên chân chúng tôi."

"Anh nói láo. Chính anh làm ướt giầy anh."

"Đồng chí công an, nhiệm vụ ông là giữ gìn trật tự, nhưng ông lại cố ý hành hạ dân thường chúng tôi. Tại sao lại vi phạm luật pháp mà nhiệm vụ ông là thực thi nó?" Trong khi Chiu nói, nhiều người bắt đầu xúm lại chung quanh.

Với một vẫy tay người đàn ông bảo đồng nghiệp trẻ tuổi:
"Chúng ta hãy bắt hắn!"
Họ chộp lấy Chiu và còng tay ông lại. Ông kêu to, "ông không thể làm vậy với tôi. Thế này là hoàn toàn vô lý."
"Câm mồm!" người đàn ông rút súng ra. "Anh có thể dùng miệng lưỡi tại đồn công an."

Tay đồng nghiệp trẻ bồi thêm," Anh là một kẻ phá hoại, anh biết không? Anh đang làm xáo trộn trật tự công cộng."

Cô dâu sợ quá, líu ríu không nói được ra hồn. Nàng gần đây vừa mới tốt nghiệp đại học về mỹ thuật và chưa hề chứng kiến công an bắt người. Tất cả nàng nói được bây giờ là "Ôi, làm ơn, làm ơn!"

Hai công an đang lôi kéo Chiu, nhưng ông không chịu đi với họ, nắm chặt góc bàn la lớn, "Chúng tôi đang chờ lên xe lửa. Chúng tôi đã mua vé."

Tay mập mạp đấm vào ngực Chiu. "Câm mồm. Cứ để cho vé hết hạn." Dùng báng súng hắn bổ xuống tay Chiu, bàn tay liền buông ngay góc bàn. Cả hai người đàn ông lôi Chiu về đồn công an.

Thấy rằng phải đi vớí họ Chiu quay đầu nói lớn với cô dâu, "Đừng đợi anh ở đây. Lên xe lửa. Nếu sáng mai anh không về thì gửi người tới để lấy anh ra."

Nàng gật đầu, khum tay che miệng đang khóc rấm rức.

 

Sau khi tháo dây giầy của ông họ khóa Chiu vào một phòng giam phía sau Đồn Công An Hỏa Xa. Cửa sổ duy nhất trong phòng bị chắn bởi sáu thanh thép và quay mặt ra một sân rộng đứng vài cây thông. Phía ngoài cây thông có hai xích đu treo từ một khung sắt, đang đong đưa nhẹ trong gió. Đâu đó trong tòa nhà tiếng dao phay đang chặt đều đều. Trên lầu hẳn phải là bếp, Chiu nghĩ vậy.

Ông mệt mỏi quá không buồn bận tâm họ sẽ làm gì mình, vì thế ông nằm xuống trên cái giường hẹp, mắt nhắm lại.

Ông không sợ. Cách Mạng Văn Hóa đã chấm dứt, và gần đây Đảng đã bắt đầu tuyên truyền ý tưởng mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Công an nên làm gương tuân thủ luật pháp cho công chúng. Miễn là ông giữ bình tĩnh và nói có lý với họ, họ chắc không làm hại ông.

Xế trưa ông được dẫn lên Phòng Thẩm Vấn ở lầu hai. Trên dường tới đó, lúc ở cầu thang, ông gặp công an trung niên đã xử tệ với ông. Hắn nhe răng cười, đảo tròn cặp mắt lồi và chỉ ngón tay về phía ông như đang bắn súng.

Đồ chó đẻ! Chiu chửi thầm.

Lúc ông ngồi xuống trong phòng ông ợ hơi, lấy tay che miệng. Ngồi trước mặt ông, ngang qua cái bàn dài, là trưởng phòng và một người mặt lừa. Trên tấm kính bàn là bìa kẹp hồ sơ gồm thông tin về trường hợp ông. Ông thấy thật lạ là chỉ trong vài giờ họ đã thiết lập được một xấp nhỏ giấy tờ về ông. Suy nghĩ lại ông bắt đầu thắc mắc không biết họ đã có thường trực giữ một hồ sơ về ông. Làm sao có thể như vậy được? Ông sống và làm việc ở Harbin, cách xa hơn ba trăm dặm và đây là lần đầu tiên ông có mặt ở Thành Phố Muji.

Trưởng phòng là một ông đầu hói, gầy, trông điềm đạm và thông minh. Bàn tay thon xắp xếp những tờ giấy trong tập hồ sơ, giống như một học giả đang diễn giảng. Ngồi bên trái Chiu là một thư ký trẻ, bảng kẹp giấy đặt trên đùi và bút mực đen trong tay.

"Tên anh?" trưởng phòng hỏi, hình như đang đọc câu hỏi từ một mẫu đơn.

"Chiu Maguang."

"Tuổi?"

"Ba mươi tư."

"Nghề nghiệp?"

"Giảng viên."

"Đơn vị làm việc?"

"Đại học Harbin."

"Chính kiến?"

"Đảng viên Cộng Sản."

Trưởng phòng đặt giấy xuống và bắt đầu nói. "Tội anh là phá hoại, mặc dù nó chưa gây hậu quả nghiêm trọng. Vì anh là đảng viên anh đáng bị phạt hơn, do đã thất bại không làm gương cho quần chúng và anh - "

"Xin lỗi ông," Chiu cắt ngang.

"Cái gì?"

"Tôi đã không làm gì cả. Người của ông là kẻ phá hoại trật tự xã hội. Họ ném trà nóng lên chân tôi và chân vợ tôi. Hợp lý ra, ông nên kiểm điểm họ, nếu không phạt họ."

"Lời nói đó vô căn cứ. Anh không có người chứng. Làm sao tôi có thể tin anh?", trưởng phòng nói một cách thản nhiên.

"Đây là chứng cớ của tôi." Chiu giơ tay phải lên. "Người của ông đã lấy súng đập ngón tay tôi."

"Điều đó không chứng minh làm sao chân anh bị ướt. Ngoài ra, có thể chính anh làm đau ngón tay mình."

"Nhưng tôi đã nói sự thật!" Cơn giận bùng lên trong Chiu. "Đồn công an của ông nợ tôi một xin lỗi. Vé xe lửa của tôi đã hết hạn, giầy da mới của tôi bị hư hại và tôi bị chậm trễ cuộc họp ở thủ đô địa phương. Ông phải bồi thường cho tôi những thiệt hại và mất mát. Đừng nghĩ lầm tôi chỉ là môt công dân thường run sợ khi ông hắt hơi. Tôi là một học giả, một triết gia, một chuyên gia về duy vật biện chứng. Nếu cần chúng ta sẽ tranh luận về chuyện này trên tờ Đông Bắc Nhật Báo, hoặc chúng ta sẽ lên tới Tòa Án Nhân Dân cao cấp nhất ở Bắc Kinh. Cho tôi biết tên ông là gì?" Chiu cao hứng với bài diễn thuyết, tuyệt nhiên không phải là chuyện nhỏ, đã nhiều dịp đạt hiệu quả thuận lợi cho ông.

"Đừng có tháu cáy chúng tôi," người mặt lừa chen vào. "Chúng tôi đã gặp nhiều người loại như anh. Chúng tôi có thể chứng minh dễ dàng anh đã phạm tội. Đây là vài lời khai của nhân chứng." Hắn đẩy vài tờ giấy về phía Chiu.

Chiu sửng sốt nhìn những viết tay khác nhau, tất cả khai rằng ông đã la lối tại quảng trường để gây chú ý và không tuân lệnh công an. Một nhân chứng còn khai căn cước mình là đại lý mua hàng tại bến tầu Thượng Hải. Một cái gì đó nôn nao trong dạ dầy Chiu, cái đau dâng cao tới các xương sườn. Ông thở ra một tiếng rên khẽ.

"Bây giờ anh phải thừa nhận đã phạm tội," trưởng phòng nói. "Mặc dù đây là một tội nghiêm trọng, chúng tôi sẽ không phạt nặng anh, miễn là anh viết một tự kiểm và hứa sẽ không gây xáo trộn trật tự công cộng nữa. Nói cách khác, anh được thả hay không tùy thuộc thái độ anh đối với tội phạm này."

"Ông đang nằm mơ," Chiu kêu lên. "Một chữ tôi cũng không viết, vì tôi vô tội. Tôi yêu cầu ông cấp cho một lá thư xin lỗi để tôi có thể giải thích với đại học tôi tại sao tôi bị trễ họp".

Cả hai thẩm vấn viên mỉm cười khinh thị. "Hừm, chúng tôi chưa bao giờ làm chuyện này," trưởng phòng nói, hít một hơi thuốc lá.

"Vậy thì hãy làm đi, coi như một tiền lệ."

"Chuyện đó không cần thiết. Chúng tôi khá chắc chắn anh sẽ làm theo mong muốn của chúng tôi." Trưởng phòng nhả một luồng khói thuốc vào mặt Chiu.

Thấy trưởng phòng nghiêng đầu ra hiệu, hai vệ binh bước tới chộp cánh tay phạm nhân. Trong khi đó Chiu tiếp tục nói, "Tôi sẽ báo cáo ông lên hành chánh địa phương. Ông sẽ phải trả giá cho chuyện này! Ông còn tệ hơn quân cảnh Nhật"

Họ lôi ông ra khỏi phòng.

 Sau bữa chiều, gồm một bát cháo kê, một bánh bột bắp và một miếng củ cải trắng muối chua, Chiu bắt đầu bị sốt, run rẩy toát đẫm mồ hôi lạnh. Ông biết rằng cơn giận bốc hỏa đã vào tới gan và có lẽ ông đang bị tái phát. Thuốc không có sẵn vì ông đã để lại cái cặp cho cô dâu. Nếu ở nhà thì lúc này ông đang ngồi trước TV mầu, uống trà thơm và xem tin buổi chiều. Ở đây thật cô đơn làm sao. Ngọn đèn vàng cam trên cái giường đơn là nguồn sáng duy nhất để vệ binh có thể canh chừng ông ban đêm. Lúc nãy ông đã yêu cầu họ cho ông báo hoặc tap chí để đọc nhưng đã bị bác.

Qua lỗ hổng nhỏ trên cánh cửa vọng vào những ồn ào. Hình như công an trực đang chơi bài hay đánh cờ trong một phòng bên cạnh; thỉnh thoảng lại nghe thấy tiếng cười đùa và nói lớn. Trong khi đó một chiếc phong cầm tiếp tục khạc âm thanh từ một góc xa trong tòa nhà. Nhìn cái bút bi và tờ giấy vệ binh để lại cho ông khi họ dẫn ông về từ Phòng Thẩm Vấn, Chiu nhớ tới lời cổ nhân, "Khi một học giả đụng đầu nhà binh, càng tranh luận, quan điểm của mình càng trở nên tối tăm, rối rắm." Điều này thật nực cười, vô lý làm sao. Ông bực bõ lấy ngón tay vò đầu. Ông cảm thấy khổ sở, xoa bóp dạ dầy liên tục. Phải nói thực là ông bực tức nhiều hơn sợ hãi, vì ông sẽ phải bắt kịp công việc một khi trở về nhà - một bài viết mà tuần tới là hạn chót để xuất bản, và hai tá sách cần đọc cho giảng khóa sắp dạy vào mùa thu.

Một bóng người lướt qua lỗ cửa. Chiu nhào tới cửa và la lớn qua lỗ hổng, "Đồng chí vệ binh, đồng chí vệ binh!"

"Anh muốn gì?" một giọng gắt gỏng khó chịu.

"Tôi muốn anh báo với lãnh đạo là tôi đau nặng. Tôi bị bệnh tim và viêm gan. Tôi có thể chết ở đây nếu bị giữ như thế này mà không có thuốc men."

"Không lãnh dạo nào làm việc cuối tuần. Anh phải đợi đến Thứ Hai."

"Cái gì? Anh muốn nói tôi phải ở đây đến ngày mai?"

"Phải."

"Đồn anh sẽ phải chịu trách nhiệm nếu có chuyện gì xẩy ra cho tôi."

"Chúng tôi biết. Bình tĩnh đi, anh không chết đâu."

Có vẻ như phi lý, Chiu lại ngủ thật ngon đêm đó mặc dù ánh đèn phía trên đầu sáng suốt dêm, và đệm rơm thì cứng và nhiều bọ chét. Ông sợ bọ chó, ruồi, gián - bất cứ côn trùng nào trừ bọ chét và rệp. Có lần ở nhà quê, nơi ban giảng huấn và nhân viên văn phòng của trường giúp nông dân thu hoạch lúa trong một tuần, các đồng nghiệp đã tiếu lâm về da thịt ông, bảo rằng nó không có mùi vị thịt người đối với bọ chét. Trừ ông, họ tất cả đều bị bọ chét cắn nhiều vết.

Bây giờ còn lạ hơn nữa là ông không thấy nhớ cô dâu nhiều. Ông còn thích thú ngủ một mình, có lẽ vì trăng mật đã làm ông mệt mỏi rã rời và ông cần nghỉ ngơi nhiều hơn.

Sân sau im ắng vào sáng Chủ Nhật. Ánh nắng nhợt chiếu qua các cành thông. Vài chim sẻ đang nhẩy nhót trên
đất bắt sâu bọ. Chiu nắm song sắt, hít vào không khí buổi sáng, thấy thoảng mùi thịt. Gần đây hẳn phải có nhà hàng hay tiệm bánh. Ông nhắc nhở thầm rằng nên coi nhẹ chuyện bắt giữ này. Trong đầu ông hiện lên câu của Mao Chủ Tịch viết gửi một người bạn đang nằm bệnh viện: "Vì anh đã ở trong đấy anh cũng nên đành chịu và lợi dụng tối hảo hoàn cảnh."

Ông muốn được an tâm, điều đó xuất phát từ nỗi sợ hãi viêm gan của mình có thể tệ hơn. Ông cố giữ đừng lo lắng. Tuy nhiên ông chắc rằng gan đang sưng lên, vì vẫn sốt dai dẳng. Suốt cả ngày ông nằm trên giường nghĩ tới bài viết của mình về bản chất của những mâu thuẫn. Thỉnh thoảng giận dữ lại bùng lên khiến ông chửi to, "Một bọn lưu manh!" Ông thề một khi ra khỏi đây ông sẽ viết một bài về kinh nghiệm này. Tốt hơn ông nên tìm biết tên của vài công an.

Hầu hết cả ngày rút cục trôi qua yên tĩnh; ông chắc chắn đại học ông sẽ gửi người tới cứu ông. Tất cả việc ông cần làm bây giờ là nên giữ bình tĩnh và kiên nhẫn đợi. Sớm muộn công an sẽ phải thả ông, mặc dù họ không hề ngờ rằng ông có thể từ chối rời trừ phi họ viết thư xin lỗi. Mẹ kiếp bọn du đãng này, đã gọi ăn nhiều hơn có thể ngốn!

 Khi ông thức dậy sáng Thứ Hai, trời đả tỏ rạng. Đâu đó có tiếng người đang rên rỉ; vọng tới từ sân sau.

Ngáp một hơi dài và hất văng cái chăn te tua, Chiu trèo khỏi giường, đi tới cửa sổ. Ở giữa sân một thanh niên bị cột vào một cây thông, hai cổ tay bị còng phía sau ôm vòng thân cây. Anh đang vùng vẫy và chửi thề ầm ĩ, nhưng không dấu hiệu có người nào khác trong sân. Chiu thấy anh trông có vẻ quen quen.

Chiu nheo mắt để nhìn rõ xem anh là ai. Ông ngạc nhiên nhận ra chàng trẻ tuổi là Fenjin, sinh viên gần đây tốt nghiệp Phân Khoa Luật Đại Học Harbin. Hai năm trước Chiu đã dạy một lớp về chủ nghĩa duy vật Mác-xít mà Fenjin có ghi danh học. Giờ không hiểu làm sao chàng trẻ này lại ở đây?

Rồi ông hiểu ra, Fenjin hẳn phải được phái đến đây do cô dâu của ông. Thật là một phụ nữ ngờ nghệch! Một con mọt sách, chỉ biết đọc tiểu thuyết ngoại quốc. Ông cứ tưởng nàng sẽ nói chuyện với bộ phận an ninh của trường, họ chắc chắn sẽ phái một cán bộ tới đây. Fenjin không giữ một chức vụ chính thức nào; anh làm việc trong một công ty tư về luật chỉ gồm có hai luật sư; thật ra họ hoạt động ít, trừ vài công việc điều tra cho mấy ông bà nghi ngờ người phối ngẫu ngoại tình. Chiu cảm thấy nôn nao muốn ói.

Ông có nên gọi to để sinh viên của ông biết ông đang ở gần? Ông quyết định không, vì ông không biết đã xẩy ra chuyện gì. Fenjin hẳn đã cãi nhau với công an nên mới khiến bị phạt như vậy. Tuy nhiên, chuyện này đã không xẩy ra nếu Fenjin đã không đến để cứu ông. Bởi vậy, dù sao chăng nữa, Chiu cũng phải làm một cái gì. Nhưng ông có thể làm gì?

Sắp là một ngày nóng như thiêu. Ông có thể nhìn thấy luồng hơi nóng tím hồng đang lung linh và bốc lên từ đất giữa những cây thông. Tội nghiệp anh chàng, ông nghĩ, khi ông nâng bát tinh bột bắp lên miệng, nhấp một ngụm và cắn một miếng dưa cần tây muối chua.

Khi một vệ binh đến thu lại bát đũa Chiu hỏi hắn chuyện gì đã xẩy ra với người ở sân sau. "Hắn chửi ông sếp tôi là 'trộm cướp'", vệ binh nói. "Hắn tự nhận là luật sư hay gì gì đó. Đồ ngang bướng"

Băy giờ hiển nhiên là Chiu phải làm một cái gì để giúp người đến cứu mình. Trước khi ông có thể tìm ra cách nào thì có tiếng gào thét vang lên ở sân sau. Ông lao vội ra cửa sổ và thấy một công an cao đang đứng trước Fenjin, một chậu sắt ở dưới đất. Chính là cái tay trẻ tuổi đã bắt Chiu ở quảng trường hai ngày trước. Hắn bóp mũi Fenjin, rồi giơ cao tay, giữ tư thế đó trong vài giây, rồi tát ngang mặt luật sư. Trong khi Fenjin rên rỉ, hắn nhấc cái chậu và đổ nước lên đầu anh.

"Thế này sẽ giúp anh không say nắng, anh bạn nhỏ. Cứ mỗi giờ tôi sẽ cho anh thêm", hắn nói lớn.

Fenjin nhắm mắt lại, nhưng khuôn mặt nhân nhó cho thấy anh đang cố gắng giữ không chửi rủa tay công an, hoặc có lẽ anh đang khóc thầm. Anh hắt hơi và ngẩng mặt la lớn, "Cho tôi đi tiểu."

"Ừ, phải rồi?" hắn nói to. "Hãy đái trong quần."

Chiu vẫn không gây một tiếng động nào, hai tay nắm song sắt, ngón tay trắng bệch. Tên công an quay đầu ngó cửa sổ phòng giam; khẩu súng, một phần trong bao, lấp lánh dưới ánh nắng. Hắn khịt mũi, nhổ đầu thuốc lá xuống đất và lấy chân dí lên..

Rồi cửa mở và vệ binh ra hiệu Chiu đi ra. Họ lại dẫn ông lên lầu tới Phòng Thẩm Vấn.

Cũng mấy người đó trong phòng, mặc dù lần này thư ký ngồi tay không. Thấy Chiu, trưởng phong nói,

"A, anh đây rồi. Mời ngồi."

Sau khi Chiu ngồi xuống trưởng phòng phe phẩy cái quạt lụa trắng, và nói với ông, "Anh có thể đã thấy luật sư của anh. Anh ta là một thanh niên bất lịch sự, cho nên giám đốc của tôi đã dạy cho anh ta một bài học cấp tốc ở sân sau."

"Làm vậy là phi pháp. Ông không sợ bị xuất hiện trên báo?"
"Không, chúng tôi không, không ngay cả trên TV. Anh có thể làm được gì khác nào? Chúng tôi không sợ bất cứ chuyện gì anh dựng nên. Chúng tôi sẽ bảo đó là giả tưởng. Cái chúng tôi bận tâm là anh hợp tác với chúng tôi; nghĩa là anh phải thừa nhận phạm tội."

"Nếu tôi từ chối hợp tác thì sao?"

"Thì luật sư của anh sẽ tiếp tục được giáo dục dưới trời nắng."

Một choáng váng làm Chiu lảo đảo và ông phải nắm chặt tay ghế để giữ yên. Một cơn đau tê dại nhói phía trên dạ dầy làm ông nôn nao muốn ói, và đầu thì đang rổn rảng. Ông chắc chắn viêm gan cuối cùng đang tấn công. Giận dữ bùng lên trong ngực, cổ họng bị co lại và tắc nghẽn.

Trưởng phòng nói tiếp, "Thật ra, anh không cần phải viết tự kiểm. Chúng tôi đã miêu tả rõ tội phạm của anh ở đây. Cái chúng tôi cần chỉ là chữ ký của anh."

Cố nén cơn giận, Chiu nói, " Cho tôi xem tờ khai."

Nhếch mép cười khẩy người mặt lừa trao ông một tờ giấy, trên viết những chữ này:

"Bởi vậy tôi thừa nhận rằng ngày 13 Tháng Bẩy tôi đã gây xáo trộn trật tự công cộng ở Trạm Hỏa Xa Muji, và tôi đã không chịu nghe phải trái khi công an xe lửa cảnh cáo. Thế nên, chính tôi trách nhiệm gây ra việc bắt giữ tôi. Sau hai ngày giam giữ, tôi đã nhận ra bản chất phản động của tội tôi phạm. Từ nay trở đi tôi sẽ cố gắng hết sức để tự giáo dục và sẽ không bao giờ tái phạm loại tội phạm này."

Một tiếng nói bắt đầu gào lên trong đầu Chiu, "Láo, láo!" nhưng ông lắc đầu và xua đi tiếng nói. Ông hỏi trưởng phòng, "Nếu tôi ký giấy này ông có thả tôi và luật sư ra không?"

"Tất nhiên chúng tôi sẽ làm vậy." Trưởng phòng gõ gõ ngón tay trên cái bìa xanh lơ - hồ sơ của họ về ông.

Chiu ký tên và ấn dấu tay ngón cái dưới chữ ký.

"Giờ anh tự do ra về," trưởng phòng mỉm cười nói, và trao ông một mảnh giấy để chùi ngón tay cái.

Chiu yếu đến nỗi không thể đứng dậy khỏi ghế khi thử lần đầu. Rồi ông cố gắng gấp đôi và đứng chân lên được. Ông loạng choạng ra khỏi tòa nhà để gặp luật sư ở sân sau. Ông cảm thấy như có quả bom trong ngực.

Nếu có thể được ông đã san bằng toàn thể đồn công an và loại bỏ cả gia đình bọn chúng. Mặc dù ông biết không thể làm được vậy, ông quyết định sẽ phải làm một cái gì.

 "Rất tiếc chuyện tra tấn này, Fenjin" Chiu nói khi họ gặp nhau.

"Không sao. Chúng là một lũ man rợ." Luật sư phủi đất dính khỏi áo vét, ngón tay run run. Nước vẫn còn đang nhỏ từ đũng ống quần xuống chân.

"Chúng ta đi thôi," ông thầy nói.

Lúc họ ra khỏi đồn công an, Chiu chợt thấy một quầy bán nước trà. Ông nắm cánh tay Fenjin, bước tới bà lão ở bàn. "Hai bát trà đen," ông nói và đưa bà một đồng nguyên.

Sau bát thứ nhất, mỗi người thêm một bát nữa. Rồi họ tiến về trạm xe lửa. Nhưng trước khi đi được quãng đường khoảng năm mươi mét, Chiu nằng nặc đòi ăn một bát súp nấm mộc nhĩ tại một quầy bán đồ ăn. Fenjin đồng ý.

Anh bảo thầy, " Đừng đãi tôi như khách."

"Không, chính tôi muốn ăn cái gì."

Như thể chết đói, Chiu lôi luật sư từ nhà hàng này sang nhà hàng khác gần đồn công an, nhưng tại mỗi nơi ông gọi nhiều hơn hai bát đồ ăn. Fenjin thắc mắc tại sao thầy không ở lại một chỗ và ăn cho no.

Chiu mua súp mì sợi, hoành thánh, cháo bát bửu gồm ngũ cốc và đậu hột, và súp gà, lần lượt, tại bốn nhà hàng. Trong khi ăn ông không ngừng rít qua kẽ răng, "Ước gì tôi có thể giết tất cả bọn khốn nạn!" Tại tiệm cuối cùng ông chỉ nhấp tí nước súp, không nếm thịt gà và nấm.

Fenjin không hiểu nổi ông thầy, trông dữ dằn và lầm bầm một mình một cách bí hiểm, khuôn mặt vàng nghệ nhiều nhăn nhúm đen sạm. Lần đầu tiên Fenjin nghĩ ông trông xấu xí.

Trong vòng một tháng, trên tám trăm người nhiễm bệnh viêm gan cấp tính ở Muji. Sáu người chết vì bệnh, gồm hai trẻ em. Không ai biết bệnh truyền nhiễm đã phát khởi như thế nào.
 
Phạm đức Thân

 

Phải đánh

 

Khi Người Ghét Chiến Tranh Buộc Phải Đánh Không Thể Chần Chờ

 Tôi nhớ rõ nhiệm kỳ đầu của TT Trump. Bốn năm. Không một cuộc chiến tranh mới nào. Trong khi mọi đời tổng thống trước đó — dù Cộng Hoà hay Dân Chủ — đều để lại ít nhất một cuộc xung đột quân sự mới. Ông Trump thì không. Ông đàm phán với Kim Jong-un. Ông ký Hiệp Định Abraham. Ông nói trước toàn dân rằng ông muốn mang lính về nhà, không phải gửi lính đi chết. Đó không phải lời nói suông. Bốn năm không có chiến tranh mới là bằng chứng.

Vậy tại sao, ở nhiệm kỳ hai, người đàn ông ghét chiến tranh ấy lại ra lệnh tấn công Venezuela vào đêm 3 tháng 1 năm 2026, bắt sống Maduro, rồi chưa đầy hai tháng sau đó phối hợp với Israel dội bom hủy diệt kho vũ khi hạt nhân của Iran?

Câu trả lời nằm trong một nghịch lý mà nhiều người không chịu hiểu: đôi khi, để giữ hòa bình, bạn phải sẵn sàng đánh. Và phải đánh trước khi quá muộn.

Thượng Nghị Sĩ Lindsey Graham, trong cuộc phỏng vấn trên Fox News với ông Sean Hannity, đã nói một câu mà tôi nghĩ mọi người cần nghe kỹ: khi TT Trump biết Iran sắp có 10 quả bom hạt nhân, ông hành động. Không chần chừ. Không hỏi ý kiến Liên Hiệp Quốc. Không chờ một nhiệm kỳ nữa để người kế nhiệm giải quyết. Ông hành động.

Nhiều người sẽ hỏi: tại sao phải vội? Tôi xin hỏi ngược: bạn có hình dung được thế giới sẽ như thế nào nếu chế độ Giáo chủ Iran có trong tay mười đầu đạn hạch tâm? Một chế độ thần quyền đã công khai tuyên bố muốn xóa sổ Israel khỏi bản đồ, tài trợ Hezbollah, Hamas, và hàng loạt nhóm khủng bố khắp Trung Đông. Một chế độ có hoả tiễn đạn đạo tầm xa, và giờ lại sắp có đầu đạn nguyên tử để gắn lên đó.

Ông Graham nói thẳng: "TT Trump không phải TT Obama, không phải TT Biden. Nếu chúng ta chờ thêm, họ sẽ làm giàu uranium lên 90% và cả thế giới sẽ bị bắt làm con tin. Bạn lo giá xăng tăng ư? Hãy tưởng tượng thế giới sẽ ra sao nếu Iran có mười quả bom. Khốn khổ. Họ sẽ giữ cả nhân loại làm con tin, và rồi họ sẽ hủy diệt Israel. Một cuộc diệt chủng là đủ rồi."

Câu nói ấy nghe tàn nhẫn, nhưng bạn hãy nghiền ngẫm. TT Obama ký thỏa thuận nguyên tử JCPOA năm 2015, tin rằng ngoại giao sẽ giải quyết. Kết quả? Iran rút khỏi thỏa thuận, tiếp tục làm giàu uranium, và đến cuối năm 2025 đã có lượng uranium làm giàu 60% đủ để chế tạo nhiều đầu đạn. Chỉ cần nâng lên 90% nữa thôi — và với kỹ nghệ họ đã có, việc đó chỉ là vấn đề thời gian. TT Trump nhìn vào con số ấy và hiểu rằng: cửa sổ hành động đang đóng lại. Nếu không đánh bây giờ, sẽ không bao giờ đánh được nữa.

Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Mỹ và Israel phối hợp tấn công. Giáo chủ tối cao Ali Khamenei thiệt mạng. Cơ sở hạch tâm Natanz và hàng loạt địa điểm nguyên tử khác bị dội bom. Đúng, giá dầu vượt 100 đô một thùng. Đúng, eo biển Hormuz bị Iran đóng. Đúng, Iran bắn trả tên lửa vào căn cứ Mỹ ở Vùng Vịnh. Cái giá là lớn. Nhưng cái giá của việc không làm gì sẽ lớn hơn gấp vạn lần.

Ông Graham nói: "Tiền đầu tư tốt nhất mà Mỹ từng bỏ ra. Phá hủy một chế độ phát xít tôn giáo đang tìm cách chế tạo vũ khí hạch tâm để đe dọa nước Mỹ — đó là một khoản đầu tư xứng đáng."

Hai tháng trước khi đánh Iran, TT Trump đã thực hiện một nước cờ mà nhiều người không ngờ tới: đêm 3 tháng 1 năm 2026, lực lượng đặc biệt Mỹ tấn công Caracas, bắt sống Nicolás Maduro và vợ ông ta, đưa về New York để đối mặt cáo buộc buôn ma túy. TT Trump tuyên bố: "Sự thống trị của Mỹ ở Tây bán cầu sẽ không bao giờ bị nghi ngờ nữa." (Mỹ trở thành đế quốc thực dân thế kỷ 21). Nhiều người chỉ thấy bề mặt: Mỹ lật đổ một nhà độc tài. Nhưng nếu bạn nghĩ sâu hơn, bạn sẽ thấy một bàn cờ địa chính trị tinh vi hơn nhiều. Venezuela có trữ lượng dầu mỏ đã được chứng minh lớn nhất thế giới: 300 tỷ thùng, chiếm 17% toàn cầu. Và ai là khách hàng lớn nhất của Maduro? Trung Quốc. Mỗi ngày hơn 600.000 thùng dầu Venezuela chảy về Bắc Kinh. Maduro gặp đặc phái viên Trung Quốc Khâu Tiểu Kỳ chỉ vài giờ trước khi bị bắt. Vài giờ. Nghĩ lại đi.

Maduro không chỉ là nhà độc tài. Ông ta là mắt xích trong cái mà Washington gọi là "mạng lưới năng lượng thù địch": Venezuela cung cấp dầu cho Trung Quốc, Iran cung cấp xăng tinh chế và linh kiện cho Venezuela, hai chế độ này hỗ trợ nhau lách lệnh trừng phạt của Mỹ, và cả hai đều là đồng minh chiến lược của Bắc Kinh. Bắt Maduro không chỉ là bắt một kẻ buôn ma túy — mà là chặt đứt một cánh tay của Trung Quốc ở Tây bán cầu.

Và bây giờ chúng ta đến phần quan trọng nhất, phần mà ông Graham đã nói toạc ra trên Fox News và nhiều người vẫn chưa chịu nghe:

"Venezuela và Iran chiếm 31% trữ lượng dầu mỏ toàn cầu. Chúng ta sẽ có quan hệ đối tác với 31% trữ lượng đã biết của thế giới. Đây là cơn ác mộng của Trung Quốc. Đây là một khoản đầu tư tốt."

Ba mươi mốt phần trăm. Bạn hãy để con số đó ngấm vào. Venezuela có trữ lượng lớn nhất thế giới, khoảng 17%. Iran đứng thứ ba hoặc tư, khoảng 10-14% tùy nguồn. Cộng lại: gần một phần ba trữ lượng dầu đã biết của hành tinh. Và cả hai nước này, cho đến trước khi Trump hành động, đều nằm trong quỹ đạo của Bắc Kinh.

Trung Quốc nhập khẩu gần 75% nhu cầu dầu. Đó là gót chân Achilles của họ. Nếu bạn kiểm soát nguồn cung, bạn kiểm soát người mua. Và đây chính là cái mà TT Trump đang làm: không cần đánh Trung Quốc trực tiếp — chỉ cần siết năng lượng. Kiểm soát Venezuela để cắt nguồn dầu giá rẻ mà Bắc Kinh đang hưởng. Thay đổi chế độ Iran để đưa Trung Đông vào quỹ đạo Mỹ. Kết quả: các quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới — Saudi Arabia, UAE, Iraq, Kuwait, Venezuela, và nếu thành công, cả Iran — đều nằm trong hệ sinh thái của Mỹ. Sáu trên bảy quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất. Trung Quốc bị bịt thở.

Bạn có thấy không? Đây không phải một cuộc chiến tranh bốc đồng. Đây là một chiến lược năng lượng toàn cầu — và nguồn gốc của nó là sự thấu hiểu rằng: ai kiểm soát dầu, người đó kiểm soát thế kỷ 21.

Mưu Đồ Bá Chủ Của Bắc Kinh — Điều Không Ai Nói To. Nhưng ai cũng nhận ra rằng Bắc Kinh không có tham vọng chiếm lãnh thổ bằng quân sự kiểu cũ. Họ chơi một ván cờ khác: kiểm soát bằng kinh tế, bằng năng lượng, bằng cơ sở hạ tầng, bằng nợ. Sáng kiến Vành Đai và Con Đường không phải là dự án nhân đạo — nó là mạng lưới kiểm soát. Cảng biển, đường ray, đường ống dầu, cáp quang — tất cả dẫn về Bắc Kinh.

Và chìa khóa của toàn bộ bàn cờ ấy là năng lượng. Trung Quốc không có đủ dầu để tự nuôi nền kinh tế khổng lồ của mình. Họ phải mua từ bên ngoài, và ba nguồn cung lớn nhất của họ là: Trung Đông, Nga, và Venezuela. Khi Trump kiểm soát Venezuela và thay đổi chế độ Iran, ông không chỉ đang bảo vệ Mỹ — ông đang chặt hai trong ba nguồn sống của Trung Quốc.

Nghĩ về điều này. Nếu Mỹ kiểm soát dầu Venezuela và đưa Iran vào quỹ đạo thân Mỹ, thì Trung Quốc chỉ còn phụ thuộc vào Nga. Và Nga đang sa lầy ở Ukraine, kinh tế suy kiệt, không còn ở thế mạnh để mặc cả với Bắc Kinh. Kết quả: Trung Quốc bị cô lập về năng lượng. Và một Trung Quốc thiếu dầu là một Trung Quốc không thể đe dọa Đài Loan, không thể bành trướng Biển Đông, không thể thách thức Mỹ. Ông Graham nói đúng: đây là cơn ác mộng của Bắc Kinh.

Và TT Trump hiểu điều đó từ đầu. Ông không đánh vì thích đánh. Ông đánh vì đó là cách duy nhất để chặn Bắc Kinh mà không cần bắn một phát súng nào vào Trung Quốc.

Tôi biết nhiều người sẽ bảo: "Nói hay lắm, nhưng có người chết." Đúng. Chiến tranh luôn có người chết. Và đó là lý do tôi muốn bạn hiểu cái logic của người ra quyết định.

TT Trump đứng trước hai lựa chọn. Lựa chọn một: không làm gì, để Iran hoàn thành chương trình hạch tâm, để Maduro tiếp tục bán dầu cho Trung Quốc và làm cầu nối cho ma túy vào Mỹ, để Bắc Kinh tiếp tục bành trướng âm thầm. Kết quả: năm năm nữa, Iran có bom hạt nhân, Trung Quốc kiểm soát mạng lưới năng lượng toàn cầu, và Mỹ không còn có thể làm gì được nữa.

Lựa chọn hai: hành động ngay. Chịu cái giá ngắn hạn — giá dầu tăng, dư luận chỉ trích, thế giới phản đối — để đổi lấy một thế giới không có Iran hạt nhân, không có Maduro, và Trung Quốc bị kiềm chế về năng lượng.

Trump chọn lựa chọn hai. Và nói thẳng: Obama sẽ không bao giờ dám. Biden sẽ không bao giờ dám. Không phải vì họ nhân hậu hơn, mà vì họ sợ cái giá chính trị hơn sợ hậu quả chiến lược. Trump thì ngược lại: ông chấp nhận bị mắng để làm điều cần làm.

Graham nói: "Donald Trump đang tái lập lại trật tự thế giới theo cách mà không ai có thể mơ được chỉ một năm trước. Quân đội chúng ta là mạnh nhất mọi thời đại."

Người La Mã có câu: "Si vis pacem, para bellum" — muốn hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh. Hai nghìn năm rồi mà câu nói ấy vẫn đúng như ngày hôm qua.

Trump không muốn chiến tranh. Tôi tin điều đó không phải vì ông nói, mà vì thành tích nhiệm kỳ một của ông chứng minh. Bốn năm không chiến tranh mới là bằng chứng mạnh hơn mọi lời nói. Nhưng ông cũng hiểu rằng hòa bình không tồn tại trong chân không. Hòa bình cần sức mạnh để bảo vệ. Và khi kẻ thù sắp có bom hạt nhân, khi đồng minh của kẻ thù đang tích trữ vũ khí ngay sân sau nhà bạn, thì hòa bình đòi hỏi bạn phải hành động.

Graham mô tả Trump là "người của hòa bình và kinh doanh", đang cứu thế giới khỏi "hỗn loạn thực sự". Có người sẽ cười khi nghe câu đó. Nhưng tôi nghĩ năm mươi năm nữa, khi các sử gia ngồi lại và cân nhắc: một thế giới không có Iran hạt nhân, một Tây bán cầu không còn là sân chơi của Bắc Kinh, một Trung Đông đang chuyển mình — họ sẽ phải thừa nhận rằng những quyết định của Trump đầu năm 2026, dù tàn nhẫn, dù gây tranh cãi, đã thay đổi cán cân quyền lực toàn cầu theo hướng có lợi cho thế giới tự do.

Tôi biết bài viết này sẽ khiến nhiều người khó chịu. Tôi biết có người sẽ bảo tôi biện minh cho chiến tranh. Nhưng tôi không biện minh cho chiến tranh. Tôi giải thích tại sao một người vốn ghét chiến tranh lại buộc phải đánh.

Thế giới không phải là lớp học mẫu giáo nơi mọi người ngồi vòng tròn cầm tay nhau hát. Thế giới là nơi chế độ Giáo chủ Iran chế tạo bom hạt nhân trong lúc tuyên bố sẽ xóa Israel. Là nơi Maduro biến Venezuela thành tiền đồn cho Trung Quốc và trạm trung chuyển ma túy. Là nơi Bắc Kinh âm thầm giăng lưới kiểm soát năng lượng trên khắp hành tinh để một ngày nào đó bóp nghẹt bất kỳ ai dám cản đường.

Trump nhìn vào tất cả những điều đó và nói: không. Không phải dưới thời tôi.

Người ta có thể không đồng ý với cách ông làm. Nhưng không ai có thể nói ông không dám làm. Trong một thời đại mà hầu hết lãnh đạo thế giới chọn an toàn, chọn im lặng, chọn đẩy vấn đề cho người kế nhiệm — Trump chọn đối mặt. Và ông chấp nhận mọi hậu quả.

Giá dầu sẽ hạ. Iran sẽ thay đổi. Venezuela đang thay đổi. Và Bắc Kinh, lần đầu tiên trong hai thập niên, đang mất ngủ.

Năm mươi năm nữa, lịch sử sẽ phán xét. Và tôi tin rằng lịch sử sẽ đứng về phía người dám hành động, không phải người chọn ngoảnh mặt.

Vô Danh

Monday, 2 March 2026

VÌ SAO CÓ ĐÔNG NGƯỜI VIỆT ỦNG HỘ PUTIN?

 Tác giả: Thiếu tướng Công an Đặng Văn Dũng.

Trong số các nước có cảnh địa chính trị giống Ukraina thì VN là giống nhất: chỉ cần nghĩ đơn giản Trường Sa giống bán đảo Crum (Crimea), Lạng Sơn, Quảng Ninh giống Donetsk và Lugansk là thấy rõ. Trong hoàn cảnh địa chính trị tương tự, các nước như Finland(phần lan - tôi không muốn gọi bằng cách dịch của Tàu), ba nước Baltic, Azecbaizan, Hankok, Taiwan đều lên tiếng ủng hộ Ukraina kiên quyết nhất. Một nước theo đuôi TQ là Cambodia cũng lên án Russia (Nga) với lý do đơn giản là "có cùng một vị thế địa chính trị". Nhà nước VN với những tính toán thực dụng của riêng mình (đúng sai còn cần bàn thêm) đã bỏ phiếu trắng. Ok, đây là cân nhắc của lãnh đạo hiện nay. Điều đáng bàn ở đây là báo chí, khá nhiều người việt có học và ít học lại ủng hộ điên cuồng Putin. Sao vậy ta ?!

Nhiều người giải thích:

- Là do có nhiều người học ở LX về, coi LX là siêu tổ quốc, coi Putin là người kế thừa LX nên ủng hộ bất chấp đúng sai.

- Nhiều người nhớ ơn LX đã giúp vũ khí, mì hột trong thời chiến tranh VN nên vẫn ủng hộ Putin.

- Nhiều người ghét USA, Phương Tây nên ủng hộ Putin

- Nhiều người chỉ theo dõi tin trên báo, TV, đài mà các thứ đó phần lớn đưa tin theo thông tấn Russia đưa tin có lợi cho Putin nên ủng hộ Putin.

Tóm lại có đủ lý do cho những người hoài niệm quá khứ ủng hộ Putin. Họ không chỉ là người già; họ có thể còn trẻ và được đào tạo rất đầy đủ theo bài bản của thầy Nhạ, thầy Sơn và nếu họ làm việc trong Hệ thống chính quyền thì số lượng ủng hộ Putin rất đông đảo.

Trong ngôn ngữ những người này luôn là phạm trù khôn - dại, chống lại Russia là dại, theo EU, NATO, theo USA là dại, theo Putin là khôn. Putin lúc nào cũng sáng suốt, luôn làm cho NATO, USA bất ngờ choáng váng. Nhiều lúc nghe họ nói cứ tưởng đang nghe dư luận viên của ĐCS TQ.

Trong ngôn ngữ của họ không có đau thương mất mát của Ukraina. Ukraina là phát xít, Tổng thống Zelensky là "thằng hề", người dân Ukraina, nền chính trị dân chủ Ukraina không được tính đến.

Một số người trong bọn họ lên giọng yêu hoà bình, chống chiến tranh nhưng ẩn sau ngôn từ của họ là mưu đồ thâm độc hướng tới ủng hộ Putin. Theo họ có chiến tranh "là do Ukraina không chịu theo Nga(Russia)"(?!)

Hay thật !

Họ là ai ?!

Họ có thể là người quen biết của chúng ta, có thể là bạn học, đồng nghiệp, hàng xóm, anh em, bạn thân thiết, người từng được chúng ta kính trọng, có người từng cao giọng phê phán những bệnh trạng của xã hội, cao giọng chống tham nhũng, mong muốn có những thay đổi theo hướng công bằng, dân chủ hơn, có người từng tức giận trước sự chèn ép của TQ đối với VN.

Thì đủ cả, tất tần tật.

Vì sao họ lại lên đồng tập thể trước một cuộc chiến tranh xâm lược hiển nhiên của Putin?! Sinh ra ở một đất nước đã từng tan nát vì các cuộc chiến tranh xâm lược của nước ngoài, cả TBCN và XHCN, mà họ không hề động lòng trước cảnh tên lửa tới tấp nã vào các thành phố văn minh xinh đẹp, không hề động lòng trước cảnh hàng triệu người rời bỏ nhà cửa tìm nơi tị nạn !?

Cái gì đã làm cho họ mù quáng, nhẫn tâm và vô cảm như vậy ?! Rõ ràng là tên lửa, siêu tên lửa của Russia bắn vào các thành phố của Ukraina, 20 vạn quân Putin tràn vào lãnh thổ Ukraina mà họ nhơn nhơn bảo rằng "tại thằng hề

Zelensky" (?!) Có lúc tôi đã phát khùng bảo lại: "Từ nay ai gọi một vị tổng thống đáng kính trọng được dân bầu là 'thằng hề' tôi sẽ tự cho mình quyền gọi lại nó là 'đồ chó má'!"

Hay thật !

Nếu hỏi một người trong bọn họ:

- vì sao anh ủng hộ Putin ?!

Anh ta sẽ ấp a ấp úng hoặc im lặng không trả lời.

Họ ủng hộ Putin vì yêu Lenin, yêu LX, yêu cnxh chẳng ?!

Putin thì liên quan gì đến LX, đến cnxh ?! Putin là kẻ sỉ vả Lenin nhiều nhất vì đã để mất Finland, mất vùng Baltic, mất Poland(Ba lan)... và để cho nhiều dân tộc trong LX được hưởng quy chế dân tộc.

Họ ủng hộ Putin vì LX trước đây từng ủng hộ, giúp đỡ VN trong chiến tranh chăng ?! Cái đó liên quan gì đến Putin và trong việc ủng hộ của LX cho VN trước đây thì người Ukraina ủng hộ nhiều nhất nếu tính tỷ lệ theo đầu người !

Có vị bí nên nói: - Tôi ủng hộ Putin vì putin đã xoá khoản nợ 10 tỷ usd VN nợ LX. Xin thưa, khoản nợ 10 tỷ đó là tính lại với giả định đồng rub bằng usd thôi chứ thực ra đó là khoản nợ vật chất không tính cụ thể được trong đó có cả hạt bo bo. Vả lại khoản nợ đó là không đòi được và VN đã trả lại bằng cách cúc cung tận như một đồng minh trung thành của Lx trong một thời gian dài, bám theo đường lối chính trị của LX trên mọi diễn đàn quốc tế.

Tôi nghĩ động cơ thúc đẩy những người ủng hộ Putin mù quáng có thể xem xét ở những góc độ sau:

1. Não trạng hai phe thời chiến tranh lạnh. Do được giáo dục một thời gian dài theo não trạng phe ta - phe địch nên thực chất những người này lúc nào cũng tìm kiếm "phe"; không có "phe" họ cảm thấy bất an, bơ vơ. Họ hiển nhiên coi Putin, Russia là "phe ta" vì kế thừa LX, kế thừa CNXH, cho dù Russia bây giờ là nước tư bản không khác gì những nước tư bản khác. Thậm chí, họ coi Putin như một kiểu "lãnh tụ sáng suốt" của "phe ta.

2. "Mối hận thù rừng rú" đối với Phương Tây. Có một số người luôn coi Phương Tây là kẻ thù, luôn ghét Phương Tây như các vị văn thân ngày xưa thù ghét Đạo Thiên chúa mặc dù ngày nay Phương Tây đã hoàn toàn khác trước và sinh hoạt chính trị quốc tế ngày nay là sáng tạo của Phương Tây. Một số người ghét Phương Tây vì đố kỵ với Phương Tây tiến bộ, giàu có (thậm chí ghét Phương Tây vì muốn sang Phương Tây mà chả có cơ hội); một số người ghét Phương Tây vì ngưỡng vọng mù quáng quá khứ và các giá trị văn hoá Phương Đông. Thật buồn là điều này xảy ra khi thịnh vượng của đất nước ta xảy ra nhờ ở sự hợp tác với Phương Tây và đi theo trào lưu tiến bộ do Phương Tây khởi xướng. Rõ ràng người Việt khác xa người Nhật, người Hàn. Do Putin đối đầu với Phương Tây nên đương nhiên họ ủng hộ.

3. Một nhân sinh quan lệch lạc do não trạng địch - ta. Do không thoát khỏi não trạng phe địch - phe ta nên họ có một thứ nhân sinh quan lệch lạc: ta luôn luôn đúng, địch luôn luôn sai, ta tử tế, địch phát xít, ta tốt đẹp, địch xấu xa, ta khôn ngoan, địch ngu dốt ... không may Ukraina thuộc về phe địch nên có thể gán cho họ đủ thứ nào là phát xít, nazi, nào là diệt chủng, phản bội ... Phe ta tốt đẹp nên Putin sáng suốt, có lẽ phải, nên Tổng thống Zelensky bị gọi là "thằng nọ", "thằng kia"; nào là "Putin bảo vệ hoà bình thế giới" ... Khổ thân Ukraina vừa bị đánh tơi tả vừa bị các vị này lên án là hiếu chiến, gây chiến. Vì Ukraina thuộc phe địch nên họ dửng dưng trước những cảnh tang thương của một đất nước xinh đẹp, dửng dưng trước cái chết vì bom đạn, tên lửa của người Ukraina, một dân tộc yêu chuộng hoà bình; họ dửng dưng như đã từng dửng dưng trước hai triệu thuyền nhân vượt biển người Việt trước đây.

4. Bày tỏ lòng trung thành. Trước ngôn từ của những kẻ lên TV dẫn dắt dư luận như Lê Văn Cương, Lê Thế Mẫu, Lê Ngọc Thống ... và đám báo chí chính thống, họ cho rằng chính quyền nước ta ủng hộ Putin nên họ gào lên, "bảo hoàng hơn vua" để bày tỏ lòng trung thành.

Thực ra Nhà nước ta không đứng về phe nào trong cuộc xung đột này và lập trường rõ ràng của VN là hai bên phải đàm phán giải quyết xung đột bằng biện pháp hoà bình; hiến chương LHQ, quyền dân tộc tự quyết và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia phải được tôn trọng. Rất nhiều người có lương tri trong và ngoài chính quyền cũng đã từng lên tiếng bảo vệ lẽ phải. Nói như Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: "Còn nếu để Ukraine thất bại thì công lý thất bại, hòa bình thế giới thất bại và đây là điều không ai chấp nhận."

Thế thôi.

Ngày 04/04/2022

 

 

Thursday, 26 February 2026

Ba làn sóng di cư

 

Ba Làn Sóng Di Cư Từ Việt Nam Đến Úc: Từ Tị Nạn Đến Di Dân Kinh Tế và Sự Khác Biệt Về Tâm Thế

Nguyễn Văn Tuấn

 Không khí rộn ràng tại hội chợ Tết ở Bankstown (Úc) vào đầu năm 2026. Bankstown là một trong những địa phương có đông đảo bà con Việt Nam sinh sống và hội tụ văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc.

Khi nhìn lại hành trình di cư của người Việt đến Úc theo dòng chảy lịch sử, có thể nhận thấy rõ ràng ba làn sóng di dân chánh, mỗi làn sóng mang những đặc trưng riêng biệt về hoàn cảnh, động cơ và tâm thế.

Làn sóng đầu tiên diễn ra ngay sau năm 1975, chủ yếu là người miền Nam, thường được gọi là "Boat People" hay người tị nạn chánh trị.

Làn sóng thứ hai khởi đầu từ những năm cuối thập niên 1990 và bùng nổ vào đầu thế kỷ 21, khi hàng loạt du học sinh Việt Nam tìm cách ở lại Úc sau khi hoàn thành chương trình học, đồng thời bảo lãnh người thân sang định cư.

Làn sóng thứ ba, từ khoảng năm 2005 trở đi, chủ yếu bao gồm những cá nhân có điều kiện tài chánh  tốt, doanh nhân, nhà đầu tư và chuyên gia tay nghề cao, thường di cư trực tiếp qua các chương trình đầu tư hoặc tay nghề.

Dù có sự khác biệt về thời gian và hoàn cảnh, cả ba làn sóng này đều có thể được xem là những hình thức "tị nạn" theo nghĩa rộng: tị nạn chánh trị trong làn sóng đầu, tị nạn kinh tế và giáo dục cho làn sóng hai, và tị nạn môi trường sống cùng cơ hội kinh doanh tốt hơn cho làn sóng ba. Những làn sóng này không chỉ thay đổi diện mạo cộng đồng người Việt tại Úc mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển đa dạng của xã hội Úc.

Từ một chiếc thuyền năm 1976 ...

Người Việt có mặt ở Úc từ trước 1975. Trước năm 1975, số liệu thống kê cho thấy có khoảng 700 người Việt ở Úc. Họ là những du học sinh đi từ miền Nam. Sau năm 1975, một đợt di dân lớn diễn ra, và chiếc thuyền đầu tiên từ Việt Nam đến Darwin là tháng 4 năm 1976.

"Thank you Australia". Khoảnh khắc đầy cảm xúc của bé Kim (4 tuổi) cùng người anh, hai anh em là những người tị nạn Việt Nam may mắn được chấp nhận định cư tại Úc. (Ảnh: courtesy of Kim Russell).

Cái mốc lịch sử của sự di dân từ Việt Nam đến Úc xảy ra vào tháng 4 năm 1976 khi chiếc thuyền từ Kiên Giang mang biển số KG4435 đến cảng Darwin (sau khi đã bị từ chối cho nhập bến ở Thái Lan, Mã Lai, Tân Gia Ba). Trên chiếc thuyền nhỏ đó có 5 người xin tị nạn. Đến năm 1981, đã có thêm 56 thuyền cặp bờ biển Úc, và con số người tị nạn đã lên đến 43,400 người. Đến năm 1991, Cục thống kê Úc ghi nhận 124,800 người Việt định cư ở Úc. Đến năm 1996 xem như làn sóng di dân đầu tiên chấm dứt.

Cuộc di dân thứ hai bắt đầu từ đầu năm 2000, nhưng thật ra là trước đó vài năm. Sau đợt di dân lần thứ nhất kết thúc, nhiều du học sinh được nhận vào học tại các trường đại học và trung học ở Úc. Một số đi học theo học bổng, nhưng đa số theo diện tự túc với sự hỗ trợ của những người di dân đợt đầu. Số học sinh và sinh viên này tìm cách ở lại Úc, và theo thời gian trở thành làn sóng di dân thứ hai. Theo thống kê Úc, trong thời gian 1996 đến 2005, có khoảng 23000 ngàn người Việt chọn Úc làm quê hương.

Làn sóng di dân thứ ba có thể ghi nhận từ 2005 trở đi, và đợt này có nhiều người hơn đợt trước. Đây là những người di dân trực tiếp từ Việt Nam sang Úc (tức không qua ngả du học). Họ là những quan chức, những doanh nhân, và những người có khả năng tài chánh có thể đầu tư từ 500,000 đến hàng triệu đô-la tại Úc. Theo thống kê Úc, chỉ tính từ 2006 đến 2016 đã có hơn 50,000 người từ Việt Nam đi định cư ở Úc. (Trong số này cũng có cả số đoàn tụ gia đình và du học sinh ở lại, chứ không hẳn chỉ di dân qua tay nghề và doanh nhân).

Ba làn sóng di dân đã giúp biến cộng đồng người Việt ở Úc thành một trong những cộng đồng đông dân. Số liệu điều tra dân số Úc năm 2016 cho thấy có gần 300,000 người Việt ở Úc. Với con số này, cộng đồng người Việt đứng hàng thứ 6 về dân số (sau các cộng đồng người Anh, Tân Tây Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Phi Luật Tân). Điều thú vị là họ "Nguyễn" đã đứng vào hạng 13 họ phổ biến nhất ở Úc, vượt qua các họ 'truyền thống' như "Brown", "Johnson", "Walker"  "Campbell", "Robinson". Dự báo đến năm 2013, nước Úc sẽ có nhiều người mang họ Nguyễn hơn là họ "Smith"!

Lợi ích cho nước Úc

Nhìn chung, tác động của các làn sóng di dân đến Úc được đánh giá là tích cực. Khi đề cập đến lợi ích của di dân, giới phân tích Úc thường đề cập đến 3 lĩnh vực viết tắt bằng 3P: dân số (population), tham gia lao động (participation), và năng suất lao động (productivity). Úc là nước rộng về diện tích, nhưng dân số chỉ 24 triệu (hiện nay), và tỉ lệ sinh sản chỉ 1.9 trẻ sơ sinh trên mỗi phụ nữ, tức dưới mức độ tăng trưởng. Do đó, di dân là cần thiết cho tăng trưởng dân số và qua đó tăng trưởng thị trường kinh tế. Dân số Úc đang lão hóa nhanh chóng, và do đó Úc cần phải có và duy trì một lực lượng lao động để cung cấp không chỉ lao động mà còn tài nguyên để chăm sóc tất cả người Úc.

Riêng đối với các làn sóng di dân từ Việt Nam, mỗi làn sóng di dân đến Úc đều đem lại những lợi ích cho nước Úc. Những người di cư trong đợt đầu tiên đã có công rất lớn tạo nên một cộng đồng vững mạnh, làm nền tảng cho các đợt di cư sau này. Năm người di dân trên chiếc thuyền đến Darwin năm 1976, chỉ 5 năm sau họ đã có trong tay hơn 45,000 đôla và trở thành chủ nhân sở hữu tàu đánh cá. Cũng như 5 người đồng hương đó, các đồng hương khác đã biến những vùng đất bán thành thị ở Sydney và Melbourne thành những đô thị sầm uất của nước Úc. Tất cả các khu phố tập trung nhiều người Việt là do thế hệ đầu tiên tạo dựng nên. Thế hệ thứ hai (con cháu của những "Boat People") học hành giỏi giang, họ có mặt trong các đại học lừng danh, họ còn hiện diện trong các tập đoàn kinh tế hàng đầu của Úc, và một số khác thì kinh doanh thành đạt. Do đó, không ngạc nhiên khi các chính phủ liên bang và tiểu bang Úc thường hay nói rằng cộng đồng người Việt là một "model minority" (thiểu số gương mẫu).

 

Sự kiện kỷ niệm 50 năm người Việt định cư tại Úc (1975–2025) do Viet TV Australia tổ chức long trọng tại Nhà hát Opera House vào ngày 6/11/2025, một dấu mốc đáng nhớ của cộng đồng. (Ảnh của tác giả)

Hai đợt di cư sau cũng đem đến cho nước Úc nhiều lợi ích. Về mặt khoa học và kỹ thuật, Úc có thêm một cộng đồng chuyên gia lành nghề mà họ chẳng tốn tiền đề đào tạo; ngược lại, họ hưởng lợi hàng tỉ USD từ du học sinh Việt Nam ở Úc. Đứng về mặt kinh tế, Úc có thêm nguồn đầu tư quan trọng, và qua đó tạo công ăn việc làm cho người dân. Úc còn có qua những người Việt mở rộng thị trường xuất nhập khẩu từ Việt Nam.

Đợt di cư lần thứ hai và thứ ba còn góp phần làm mới các khu đô thị cũ của người Việt. Trước đây, các hàng quán của người Việt thuộc thế hệ đầu tiên thường mang đậm những nét văn hóa từ Việt Nam sang. Nhưng hai đợt di dân sau này họ đem đến một văn hóa kinh doanh mới, có thể nói là 'văn minh' hơn và 'slick' hơn so với văn hóa của thế hệ trước. Đôi khi, chúng ta chỉ cần bước vào một quán cà phê hay quán ăn và nhìn qua cách trang trí lịch lãm cũng như bày biện ngăn nắp là biết ngay thuộc thế hệ thứ hai. Do đó, tôi nghĩ hai đợt di dân sau này góp phần "tươi trẻ hóa" cộng đồng người Việt.

Tuy nhiên, hai đợt di dân sau này cũng có khi tạo nên một ấn tượng không tốt trong cái nhìn của vài người Úc. Người Việt trước đây nổi tiếng là "cộng đồng gương mẫu", nhưng nay lại có khi mang tiếng xấu. Những bản tin về "phá vỡ đường dây trồng cần sa" hay những đợt vây bắt các nhóm buôn bán á phiện đều dính dáng đến người Việt. Giới cảnh sát có hẳn một danh sách nguyên quán (tất cả đều thuộc miền Bắc Trung Bộ và miền Bắc) của những thủ phạm!

Những cái nhìn khác về di dân

Tuy di dân thường được các nhà hoạch định chánh sách và giới kinh tế xem là động lực cho tăng trưởng, không phải mọi người Úc đều đồng thuận với quan điểm đó. Trong đời sống xã hội, đặc biệt tại các thành phố lớn như Sydney và Melbourne, đã xuất hiện những lo ngại rằng tốc độ gia tăng dân số quá nhanh đang tạo ra sức ép đáng kể lên thị trường nhà ở, hạ tầng giao thông và dịch vụ công.

Giá nhà là ví dụ rõ ràng nhất. Ba mươi năm trước, khi nhiều người Việt mới đặt chân đến Úc, một căn nhà trung bình ở Sydney còn nằm trong tầm tay của tầng lớp trung lưu. Ngày nay, giá nhà đã tăng lên mức mà nhiều gia đình trẻ sinh ra và lớn lên tại Úc khó có thể tiếp cận. Sự leo thang này là kết quả của nhiều yếu tố đan xen: chánh sách tín dụng nới lỏng, đầu tư nước ngoài, quy hoạch hạn chế quỹ đất, xu hướng đô thị hóa toàn cầu và cả dòng người nhập cư. Trong những cuộc tranh luận công khai, di dân thường bị đặt ở vị trí trung tâm của vấn đề, dù thực tế phức tạp hơn nhiều so với một mối quan hệ nhân – quả đơn giản.

Cùng với giá nhà, mật độ dân cư gia tăng cũng làm thay đổi diện mạo đô thị. Những khu vườn rộng, nhà đơn lập đặc trưng của "giấc mơ Úc" dần được thay thế bằng các khu chung cư cao tầng và nhà phố san sát. Với những cư dân lâu năm, sự thay đổi đó không chỉ là thay đổi vật chất, mà còn là thay đổi về cảm nhận lối sống. Họ lo ngại rằng phẩm chất sống – vốn từng gắn với không gian rộng rãi, yên tĩnh và riêng tư – đang bị thu hẹp trong nhịp sống đô thị hóa nhanh chóng.

Một nghịch lý khác của chính sách di dân nằm ở chỗ "lãng phí nhân tài". Úc đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe đối với người nhập cư: trình độ chuyên môn cao, khả năng tiếng Anh, kinh nghiệm làm việc, năng lực tài chánh. Thế nhưng khi đặt chân đến đây, nhiều kỹ sư, bác sĩ, luật sư hay giáo viên lại phải bắt đầu từ những công việc không tương xứng với năng lực, do bằng cấp và kinh nghiệm từ nước ngoài không được công nhận đầy đủ. Không ít người phải mất nhiều năm học lại, thi lại hoặc chấp nhận chuyển ngành. Ngay cả khi quay lại được nghề cũ, con đường thăng tiến vẫn thường chậm và giới hạn. Điều này không chỉ là tổn thất cá nhân, mà còn là sự lãng phí nguồn nhân lực mà chính nước Úc đã chủ động thu hút.

Tuy nhiên, nhìn ở chiều ngược lại, sức hút của Úc đối với người Việt Nam và nhiều cộng đồng khác không phải là điều ngẫu nhiên. Khoảng cách địa lý tương đối gần, môi trường chính trị ổn định, hệ thống pháp luật minh bạch và mức độ an toàn cao tạo nên một cảm giác yên tâm lâu dài. Chất lượng giáo dục – từ trung học đến đại học – thuộc hàng đầu thế giới. Hệ thống y tế và an sinh xã hội tuy không hoàn hảo, nhưng vẫn bảo đảm một mạng lưới hỗ trợ đáng kể cho người dân. Đối với nhiều gia đình, đặc biệt là những người đã trải qua bất ổn chánh trị hay kinh tế tại quê nhà, những yếu tố ấy có giá trị rất lớn.

Úc, xét cho cùng, là một quốc gia được hình thành và phát triển nhờ các làn sóng di dân. Từ thế kỷ 19 đến nay, những dòng người từ Âu châu, Trung Đông và Á châu đã cùng nhau tạo nên một xã hội đa văn hóa. Trong bức tranh đó, cộng đồng người Việt tuy không phải là cộng đồng đông nhứt, nhưng đã để lại dấu ấn rõ rệt. Tiếng Việt trở thành một trong những ngôn ngữ được giảng dạy phổ biến tại các trường trung học. Ẩm thực Việt Nam – từ phở, bánh mì đến cơm tấm – đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống ẩm thực đô thị Úc. Quan trọng hơn cả là sự hiện diện của người Việt trong các lãnh vực học thuật, kinh doanh và chuyên môn. Thế hệ "Boat People" đầu tiên, xuất phát từ hoàn cảnh khó khăn nhất, đã đặt nền móng cho một cộng đồng ổn định và được xã hội ghi nhận. Không phải ngẫu nhiên mà ngay cả những người có quan điểm dè dặt với di dân nói chung cũng thừa nhận sự thành công của cộng đồng người Việt. Các thế hệ sau, với điều kiện thuận lợi hơn về giáo dục và tài chính, vẫn đang trong tiến trình hội nhập và khẳng định vị trí của mình.

Vietnamese Museum Australia – Bảo tàng Người Tị nạn Việt Nam đầu tiên tại Úc, được Chánh phủ Úc cấp đất và tài trợ (một phần) để xây dựng, nhằm tri ân và lưu giữ hành trình đầy gian khổ  cũng như những đóng góp của cộng đồng người Việt tị nạn tại Úc.

Do đó, tranh luận về di dân tại Úc không phải là câu chuyện trắng – đen. Nó là sự giằng co giữa nhu cầu tăng trưởng và áp lực hạ tầng, giữa lý tưởng đa văn hóa và nỗi lo bảo vệ lối sống truyền thống, giữa chính sách thu hút nhân tài và thực tế hội nhập phức tạp. Trong bối cảnh ấy, cộng đồng người Việt – như nhiều cộng đồng khác – vừa là một phần của thách thức, vừa là một phần của giải pháp. Và chính sự tham gia tích cực, có trách nhiệm vào đời sống xã hội Úc sẽ quyết định cách cộng đồng người Việt được nhìn nhận trong tương lai.

Ba làn sóng di dân từ Việt Nam sang Úc thực chất được định hình bởi hai tâm thế khác biệt. Làn sóng đầu tiên là tâm thế của người tị nạn. Họ ra đi trong hoàn cảnh cùng quẫn, phía sau là biến động lịch sử, phía trước là biển cả bất định. Phần lớn không mang theo tài sản, địa vị hay cả một quốc tịch được bảo đảm; điều họ mang theo nhiều nhất là ký ức đứt gãy và những chấn thương khó gọi thành tên. Với họ, Úc trước hết là nơi trú ẩn – một vùng đất tự do để được sống an toàn và làm lại từ đầu.

Hai làn sóng sau thuộc về tâm thế của người di dân. Họ ra đi trong điều kiện chủ động hơn: có quốc tịch, có lựa chọn, có nguồn lực tài chánh và vốn liếng học vấn. Nếu người tị nạn tìm một nơi để tồn tại, thì người di dân tìm một nơi để phát triển; nếu thế hệ trước bước đi trong tâm trạng mất mát, thì thế hệ sau bước đi với kỳ vọng mở rộng cơ hội.

Chính sự khác biệt căn bản đó — giữa ra đi vì bắt buộc và ra đi vì chọn lựa — cùng với những khác biệt về ký ức lịch sử và quan điểm chánh trị, đã khiến cộng đồng người Việt tại Úc mang trong mình nhiều tầng bản sắc. Đó là một cộng đồng phong phú và năng động, nhưng cũng chưa hẳn là một khối đồng nhứt. Sự đa dạng ấy vừa là thách thức cho sự đoàn kết, vừa là dấu ấn đặc thù của một cộng đồng được hình thành từ những hành trình rất khác nhau.

Bên cạnh những khác biệt về thời điểm và điều kiện ra đi, một đường ranh khác cũng âm thầm tồn tại trong cộng đồng: sự chia rẽ mang tính thế hệ giữa những người tị nạn "Boat People" và thế hệ sinh ra, hoặc lớn lên, tại Úc. Đối với thế hệ đầu tiên, ký ức về chiến tranh, vượt biên, trại tị nạn và những mất mát là một phần không thể tách rời của căn cước tính. Quê hương trong họ không chỉ là một địa danh, mà là một vết thương, một lý tưởng, thậm chí là một lập trường chánh trị. Trong khi đó, thế hệ sanh ra ở Úc tiếp cận Việt Nam qua câu chuyện gia đình, qua những chuyến về thăm, hoặc qua văn hóa – ẩm thực – ngôn ngữ, chứ không qua trải nghiệm sanh tử. Họ mang căn tính "Úc gốc Việt" hơn là "người Việt", và vì vậy không nhất thiết chia sẻ cùng một cường độ cảm xúc hay cùng một cách nhìn về lịch sử. Sự khác biệt đó đôi khi tạo ra hiểu lầm: thế hệ trước có thể cảm thấy con cháu "quên nguồn", còn thế hệ sau lại thấy mình bị buộc phải mang một ký ức không thuộc về họ. Tuy nhiên, nếu được đối thoại trong tinh thần cảm thông, khoảng cách thế hệ này không phải là rạn nứt, mà có thể trở thành nhịp cầu, nơi ký ức được kể lại, được hiểu, và được tiếp nối theo một cách nhẹ nhàng hơn, phù hợp với bối cảnh mới của cộng đồng người Việt tại Úc.

Nhìn lại ...

Nhìn lại nửa thế kỷ hiện diện của người Việt tại Úc, có thể thấy đây không chỉ là câu chuyện của những con số hay những đợt sóng di dân kế tiếp nhau, mà là câu chuyện của thích nghi, tái tạo và chuyển hóa. Từ 5 người trên chiếc ghe nhỏ cập bến Darwin năm 1976 đến một cộng đồng hàng trăm ngàn người hôm nay, hành trình đó phản ảnh sức sống bền bỉ và khả năng vươn lên mạnh mẽ của người Việt trong một môi trường hoàn toàn mới.

Ba làn sóng di dân, với ba tâm thế khác nhau, đã tạo nên một cộng đồng đa dạng về kinh nghiệm sống, quan điểm và mức độ hội nhập. Sự khác biệt đó đôi khi tạo ra khoảng cách, thậm chí va chạm. Nhưng cũng chính sự đa dạng đó lại là nguồn lực quý giá, nếu được nhìn nhận như một vốn liếng chung thay vì một ranh giới phân chia. Một cộng đồng trưởng thành không phải là một cộng đồng đồng nhất, mà là một cộng đồng biết chấp nhận khác biệt và tìm được mẫu số chung trong khác biệt đó.

Trong bối cảnh nước Úc tiếp tục thay đổi vì toàn cầu hóa và di dân, cộng đồng người Việt cũng đứng trước những câu hỏi mới: làm sao để duy trì bản sắc văn hóa mà vẫn hội nhập sâu rộng; làm sao để thế hệ sau hiểu được lịch sử của thế hệ trước; và làm sao để những thành công cá nhân chuyển hóa thành sức mạnh tập thể. Những thách thức đó không hề nhỏ, nhưng kinh nghiệm của gần 50 năm qua cho thấy người Việt tại Úc có đủ nội lực để vượt qua.

Cuối cùng, hành trình di dân không chỉ là hành trình rời bỏ một quê hương, mà còn là hành trình kiến tạo một quê hương mới. Nếu làn sóng đầu tiên đặt nền móng, thì những làn sóng sau đang xây thêm tầng cao cho ngôi nhà chung. Và, trong tiến trình đó, cộng đồng người Việt không chỉ tìm thấy chỗ đứng cho mình trên đất Úc, mà còn góp phần định hình diện mạo của nước Úc trong thế kỷ 21 — một nước Úc đa văn hóa, năng động và rộng mở.

Nguyễn Văn Tuấn