Wednesday, 6 May 2026

Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê

 Sau đây là những trang/dòng bị kiểm duyệt trong cuốn hồi ký của cụ Nguyễn Hiến Lê viết về những gì xảy ra sau 1975.

• Sự ngạo mạn của những người 'thắng cuộc': những biện pháp nhằm san bằng chế độ cũ để không để lại dấu vết nào cả. "Phải đuổi hết các nhân viên cũ, để anh em cách mạng chia nhau tất cả các chức vụ lớn nhỏ". Nhưng khổ nỗi những nhân viên cũ là những người có học và thực tài, còn người mới thì vừa dốt, vừa ngạo mạn, nên chẳng làm được gì!

• Chia rẽ Nam – Bắc: ngay từ thời đó (1980) dấu hiệu chia rẽ Nam – Bắc đã rõ nét. Ông viết "Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kĩ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học – thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau... Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến."

• Ngay cả cùng phe cũng chẳng có đoàn kết: "Cùng là công nhân viên cả, mà bọn ở Bắc vô không ưa bọn Liên khu 5; hai hạng đó đều khinh bọn ở bưng trong Nam về; bọn này lại không chơi với bọn trước kia tập kết ra Bắc, nay trở vô Nam; bọn 'nằm vùng' cũng không ưa bọn tập kết về đó."

• Khinh miệt: ông so sánh: "[...] Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ: nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kĩ thuật, nghệ thuật, văn hóa; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc [...] cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ, ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm chứ đừng nói là người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên. Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là ngụy hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là ngụy với nhau mà!"

Đọc tiếp: https://nguyenvantuan.info/.../ngay-30-4-doc-lai-hoi-ki.../

 


LỊCH SỬ BẠO LỰC CHÍNH TRƯỜNG MỸ

Bạo lực chính trị trong chính trường Mỹ thế kỷ XXI xảy ra khi chiến thắng bất ngờ của ứng cử viên Donald Trump hồi 2016 khiến giấc mộng “Madam President” của ứng cử viên Hillary Clinton và đảng của bà tan thành mây khói trong hụt hẫng và ê chề. Bạo lực ấy không bộc phát bởi bản thân vụ thất cử. Nó diễn tiến lâu đời suốt chiều dài lịch sử Mỹ; từ khi đảng anti-slavery và pro-Christianity của cố TT Abraham Lincohn ra đời để chống lại chính sách pro-slavery và pro-socialism, pro-marxism của đảng đương quyền đầy tham vọng cá nhân và bè phái tham nhũng; núp danh nghĩa chính cái tên gọi mỵ dân mà nó tự xưng.

 1/ Vụ hành hung GOP Sen Charles Sumner: Chiều 22/5/1856, GOP Sen. Charles Sumner đang cắm cúi ký tên lên các bản sao diễn văn của ông tại phòng họp US Senate; không hề hay biết Preston Brooks (US Dem Rep. – S. Carolina) đã lặng lẽ tiến công từ sau lưng. Brooks nâng cao cây gậy đầu dát vàng lên rồi giáng liên tục xuống đầu Sumner cho đến khi chiếc gậy vỡ nát khiến Sumner nằm bất động trong vũng máu. Sumner bị thương nặng đến mức phải mất 3 năm mới đủ hồi phục để trở lại US Senate. Nạn nhân mang di chứng chấn thương sọ não suốt đời. Vụ hành hung đó không phải là hành động bộc phát của một cá thể mất kiểm soát. Nó là sản phẩm có tính toán của một mưu đồ chính trị lấy bạo lực làm công cụ bảo vệ quyền lợi phe phái. Mưu đồ ấy của đảng DC kéo dài đến tận thế kỷ XXI vẫn chưa chấm dứt.

 Được biết, GOP Senator Charles Sumner của Massachusetts có lập trường bãi bỏ chế độ nô lệ kiên quyết. Hai ngày trước khi bị hành hung, ông đã đọc bài diễn văn dài 5 giờ mang tên “Crimes vs Kansas”; trong đó, ông chỉ trích gay gắt các Dem Senators ủng hộ chế độ nô lệ, đặc biệt là Andrew Butler (bà con của Brooks). Sumner dùng ngôn ngữ ẩn dụ sắc bén so sánh Butler với Don Quixote đang “ôm ấp một người tình xấu xí” (tức chế độ nô lệ). Brooks không chọn cách phản bác bằng lập luận vì đuối lý. Ông ta cũng không thách đấu kiếm tay đôi theo phong cách quý tộc miền Nam. Thay vào đó, sau khi hội ý với Dân biểu Laurence Keitt (đồng viện Dân Chủ), Brooks bảo rằng Sen. Sumner không đáng được đối xử như một “gentleman” mà chỉ đáng bị đòn nhục như một kẻ hạ đẳng. Keitt và một đồng phạm khác đi theo Brooks vào phòng họp; chặn lối để không ai vào can ngăn được trong khi Brooks ra đòn.

 

Sau vụ đánh lén hèn hạ, Brooks chỉ bị phạt 300 USD (# 10.000 USD ngày nay) mà không hề bị tù một ngày nào. Khi Hạ viện bỏ phiếu trục xuất, phe đảng Dân Chủ bảo vệ Brooks đủ để ngăn đa số hai phần ba cần thiết. Brooks tự từ chức rồi lập tức được cử tri ủng hộ chế độ nô lệ tái bầu trong cuộc bầu cử đặc biệt. Các tiểu bang pro-Dems miền Nam đã gửi Brooks nhiều cây gậy mới làm quà; có chiếc thậm chí còn khắc chữ “very good job”! Điểm đáng chú ý không phải là hành vi bạo lực hèn mạt của một cá thể, mà là phản ứng tập thể của đảng Dân Chủ hồi đó. Chính giới Miền Nam pro-Dems đã tôn vinh Brooks như một “anh hùng”; tựa như họ đã tôn vinh tội phạm Georges Floyd ở thế kỷ 21 sau này; chỉ khác là không quỳ gối trước quan tài vì hung thủ không chết! Các Dem US Senators hồi đó thậm chí còn đeo nhẫn làm từ mảnh gậy vỡ để biểu hiện tinh thần “đoàn kết một lòng”. Báo Richmond Enquirer viết rằng “những kẻ bãi nô thô lỗ trong US Senate cần phải bị đánh cho khuất phục”! Bạo lực đã không bị lên án mà còn được hợp pháp hóa, biểu dương và được biến thành bản sắc chính trị của đảng. Sử gia William Gienapp đã kết luận rằng vụ hành hung Sumner là sự kiện then chốt giúp GOP trẻ trung - vốn được lập hồi 1854 chỉ hai năm trước đó - chuyển mình thành một đảng chính trị có thực lực và chính nghĩa. Bởi vì cử tri phương Bắc nhìn thấy trong vụ này mặt nạ của phe pro-slavery đã rớt: Họ sẵn sàng dùng “bạo lực đánh dưới rốn” để bịt miệng đối thủ ngay giữa cơ quan lập pháp cao nhất nước Mỹ.

2/ Vụ ám sát TT Lincohn: Chín năm sau vụ Sumner, bạo lực chính trị không còn dừng ở mức bạo lực hành hung đánh lén. Nó leo thang thành ám sát tổng thống: Tối 14/4/1865, John Wilkes Booth (diễn viên nổi tiếng và là kẻ ủng hộ nhiệt thành Liên minh pro-slavery Miền Nam) đã lẻn vào hậu trường Ford Theater, nơi TT Lincoln đang mải xem vở opera “Our American Cousin”, rồi bắn một viên đạn vào ót vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ. TT Lincoln qua đời sáng hôm sau 15/4/1865. Abraham Lincoln, vị tổng thống GOP đầu tiên, người đã giải phóng hàng triệu nô lệ da đen, người đã chiến thắng nội chiến Nam-Bắc để bảo toàn CQ Liên Bang, bị sát hại bởi một kẻ mà toàn bộ niềm tin chính trị đều nằm gọn trong quỹ đạo tư tưởng pro-slavery của đảng Dân Chủ lãnh chúa miền Nam thời đó. Đây là hậu quả của một chính sách lấy bạo lực là phương tiện cứu cánh để bảo lưu quyền lực chính trị kể từ vụ Sumner.

 Thuở thiếu thời, Booth từng hoạt động với đảng “Know-Nothing”, một đảng bài ngoại. Tuy nhiên, toàn bộ hệ tư tưởng chính trị của Booth (ủng hộ chế độ nô lệ, thù ghét Lincoln, coi người da đen là hạ đẳng, tôn sùng lợi quyền thống trị Miền Nam) hoàn toàn trùng khớp với nền tảng tư tưởng pro-slavery của Đảng Dân Chủ thời đó. Booth tin rằng Lincoln đang “phá hoại” Hiến pháp và diệt nền thống trị Miền Nam. Hắn hành động không chỉ vì thù cá nhân mà vì một tầm nhìn chính trị phi dân chủ và phi đạo đức: Cứu vãn liên minh pro-slavery Miền Nam bằng cách ngắt đầu chính phủ liên bang. Booth la lớn “Sic semper tyrannis”! (số phận luôn dành cho bạo chúa là thế) rồi nhảy xuống sân khấu và tẩu thoát. Khẩu hiệu đó không phải lời nói ngẫu hứng. Nó là tuyên ngôn của một hệ tư tưởng coi việc giết hại đối thủ chính trị như là hành động “anh hùng”. Các cuộc biểu tình ở thế kỷ 21 sau này phải lấy khẩu hiệu tắt “No King” vì “tyrant” Trump chỉ bị ám sát hụt; dù nhiều lần. Ai tổ chức thỉ kẻ đó là đồng chí của tiền bối Booth chớ còn ai “trồng khoai đất này”!?

 3/ Vụ thành lập Ku-Klux-Klan: Nếu vụ Sumner là bạo lực cá thể và vụ Lincoln là ám sát chính trị có tổ chức, thì Ku Klux Klan (gọi tắt là KKK) là bước tiến tiếp theo của đảng con lừa: Bạo lực có hệ thống, có tổ chức, có quy mô lớn. KKK được thành lập hôm 24/12/1865 tại Pulaski, Tennessee bởi 6 cựu sĩ quan quân đội Liên minh Miền Nam như Đại úy John C. Lester, các Th.Tá James R. Crowe, John D. Kennedy, Calvin Jones, Richard R. Reed và Frank O. McCord. Ban đầu được mô tả như một “Social Club”, tổ chức này nhanh chóng biến thành một bộ máy khủng bố có mục đích rõ ràng: Đè bẹp quyền lực chính trị của người da đen và GOP tại miền Nam trong thời kỳ “Tái Thiết” sau nội chiến. KKK chủ trương kỳ thị chủng tộc da đen, chống Jews. KKK thời 1866 gồm 40 chi nhánh không có trung ương; hoạt động mạnh ở miền nam và trung tây nước Mỹ. Mặc dù CQLB đã liệt kê KKK là tổ chức khủng bố từ 1871, KKK vẫn phát triển mạnh với khoảng 6 triệu hội viên hồi đầu TK20. Con số này giảm còn khoảng 6,000 khi thế kỷ 21 bắt đầu.

 Mối liên hệ giữa KKK và đảng Dân Chủ thời kỳ ấy là không thể phủ nhận tùy bối cảnh. KKK không phải là một “chi bộ” chính thức” của đảng Dân Chủ. Nhưng trong thực tế, nó hoạt động như biệt đội vũ trang của các chính trị gia đảng Dân Chủ miền Nam. Tướng Nathan Bedford Forrest (“grand dragon” đầu tiên của KKK) đã được mời phát biểu tại National Democratic Conference (DNC) hồi 1868. Các thành viên KKK đe dọa, đánh đập, và giết hại cử tri GOP (cả da đen lẫn da trắng) để đảm bảo chiến thắng cho các ứng cử viên pro-slavery Dân Chủ. Tại Louisiana, hơn 2.000 người bị giết, bị thương, hoặc bị tấn công chỉ trong vài tuần trước cuộc bầu cử tổng thống năm 1868. Tại một giáo xứ CG có đa số đăng ký Cộng Hòa là 1.071 phiếu, sau các vụ giết người này, không một cử tri GOP nào dám đi bầu. KKK công khai ép buộc cử tri bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ rồi cấp cho họ giấy chứng nhận để tránh bị giết lầm (cuối TK20 khéo léo hơn dùng hình thức “vote by mail” để giấu tay đếm phiếu gian lận). Đó không phải là bạo lực tự phát mà là “khủng bố” có tổ chức nhằm thao túng kết quả bầu cử để phục vụ trực tiếp cho lợi quyền của đảng Dân Chủ.

 Cái bóng của KKK không chỉ dừng lại ở thế kỷ XIX: Sen. Robert C. Byrd (D-W.Virginia), kẻ tại vị trong US Senate hơn 57 năm (dài nhất trong lịch sử Mỹ) chính là cựu thành viên tích cực KKK cuối cùng trong US Senate. Trong thập niên 1940, Byrd không chỉ gia nhập KKK mà còn tổ chức và lãnh đạo một chi bộ địa phương, được bầu làm “Exalted Cyclops” (chức vụ cao nhất của local KKK). Năm 1944, Byrd viết thư cho pro-slavery Sen. Theodore Bilbo, tuyên bố rằng ông ta “sẽ không bao giờ chiến đấu cạnh một người da đen trong US Army”. Năm 1964, Byrd đích thân “filibuster” Citizen Right Act suốt 14 giờ liên tục. Dù sau này Byrd miễn cưỡng gọi việc gia nhập KKK là “sai lầm lớn nhất đời tôi” để lòe cử tri da đen và dần chuyển sang ủng hộ dân quyền, sự thật vẫn là: Đảng Dân Chủ đã bầu và tái bầu một cựu lãnh đạo KKK cốt cán vào Thượng Viện suốt hơn nửa thế kỷ — từ năm 1959 cho đến khi Byrd qua đời năm 2010. Tại lễ tang, chỉ có đảng viên DC Barack Obama, Joe Biden và Bill Clinton đọc điếu văn phân ưu; phớt lờ thành tích kỳ thị chủng tộc và tội ác trong KKK của kẻ quá cố; miễn sao, kẻ đó phục vụ đắc lực lợi quyền của đảng.

 KKK không chỉ kỳ thị và dùng bạo lực với dân da đen và dân Jews, nó còn “target” dân Việt tỵ nạn cộng sản cũng tại thủ phủ Louisiana của nó: Người Việt tỵ nạn cộng sản ở Mỹ thành công trên nhiều lãnh vực nhờ sự hiếu học, đức tính kiên trì nhẫn nại, tinh thần đoàn kết cộng đồng và trọng lễ giáo trong gia đình. Nhưng một thành công khác rất bất ngờ; có lẽ do quen đối phó với chiến tranh súng đạn không ngừng nghỉ của lịch sử nước nhà và quen sống với nạn khủng bố gây chết chóc đau thương do kẻ thù Việt cộng – những kẻ hiếu chiến hiếu sát chiến đấu cho ngoại bang Nga, Tàu và chủ nghĩa bánh vẽ XHCN – gây ra như cơm bữa, nên người Việt – nói cách riêng giới ngư phủ Việt – với sự giúp sức của CQLB và GHCG Mỹ đã chiến thắng bọn KKK trong một cuộc đấu tranh không cân sức với tổ chức khủng bố khét tiếng kỳ thị này ngay tại lãnh địa thủ phủ miền nam của họ.

KKK là một tổ chức của người da trắng kỳ thị chủng tộc da đen và Jews. Nó chủ trương bạo động do 6 cựu binh thời nội chiến Mỹ lập ra (Đại úy John C. Lester, Th.Tá James R. Crowe, John D. Kennedy, Calvin Jones, Richard R. Reed và Frank O. McCord). KKK thành lập năm 1866 gồm 40 chi nhánh không có trung ương; hoạt động mạnh ở miền nam và trung tây nước Mỹ. Mặc dù CQLB đã liệt kê KKK là tổ chức khủng bố từ 1871, KKK vẫn phát triển mạnh với khoảng 6 triệu hội viên hồi đầu TK20. Con số này giảm còn khoảng 6,000 khi thế kỷ 21 bắt đầu.

Nạn nhân đầu tiên là người da đen; cả người da trắng (GOP và Dems anti-slavery) và viên chức CQLB thi hành luật pháp. Sau đó, danh sách có thêm người Do-thái, Công giáo, đồng tính và các sắc dân da màu khác. Tổ chức này chỉ bắt đầu yếu dần từ cuối thập niên 1990s và chuyển thành các nhóm nhỏ mang danh xưng khác như “Skinheads, Neo-Nazi groups ..vv.”. Do đó, giữa thập niên 1970s KKK còn rất mạnh và dân ngư phủ tỵ nạn Việt nghiễm nhiên trở thành nạn nhân mới nhất trong danh sách này:

Nhóm ngư phủ tỵ nạn đầu tiên ở Biloxi, Mississippi có gia đình ông “Ba Nguyễn” dân CG di cư 1954 từng hai lần phải bỏ ghe đánh cá hồi 1954 và 1975; nay tự đóng chiếc thứ ba để sinh nhai và tranh đấu để “được chấp nhận” như lời ông tâm sự với ký giả Harvey Arden của tạp chí National Geographic hồi năm 1980. Nhóm ngư phủ được tàu chiến Mỹ đưa đến Guam và được phân tán đi định cư nhiều nơi như Minnesota, Pensylvania . . . nhưng vì sợ khí hậu lạnh; quen sống tụ tập theo truyền thống và phải ở bờ biển miền nam nước Mỹ mới làm lại nghề đánh cá được, nên họ dời đến Biloxi, Louisiana. Mà đây lại là một lãnh địa của KKK lúc đó.

Chủ vựa tôm Richard Gollott ngồi trong văn phòng nhỏ của vựa “Cap’n Gollott Seafood” ở Back Bay, Biloxi nhớ lại hồi năm 1977, khi không tìm ra nhân công địa phương để lột vỏ nghiêu sò, ông đã thử lái xe đến New Orleans chở một tá người Việt ở đây và vô cùng ngạc nhiên vì chưa từng thấy ai hăm hở làm việc hăng say như vậy. Ông mời 2 gia đình Việt đông nhất đến ở để làm việc hầu tránh việc đưa rước đường xa. Thế rồi 2 gia đình này rủ thêm bạn bè đến đây ngày một đông; tạo thành một cộng đồng làng chài tỵ nạn Việt. Họ khôn ngoan không chịu lãnh lương giờ mà đòi lãnh theo sản phẩm thu hoạch nên có mức lương tương đương $6-$7/giờ, một thu nhập cao so với $2.5-$3.5/giờ thời điểm đó.

Vì đa số là dân bắc 1954 nên họ đã mời Lm Thắng đến làm công việc mà Môi-sen xưa đã làm là chăn dắt đoàn chiên ngoan đạo. Lm Thắng liền đến gặp GM Joseph Lawson Howze nhờ giúp đỡ và đã được giới thiệu đến Đức Ông Gregory Johnson của giáo xứ St Michael ở Biloxi. GM Howze giới thiệu rằng “các ngư phủ này là người CG rất rất ngoan đạo và Lm James (Cha Thắng) sẽ cai quản họ như ở VN trước đây. Hồi 1954 di cư vào Nam VN, cha James vừa học ở chủng viện Saigon vừa hành nghề lái taxi để sinh sống. Ông thụ phong linh mục năm 1956 rồi đi Vũng Tàu gây dựng nên họ đạo Phước Tĩnh”. Ký giả Arden khi nghe tiếng hát “thiên thần” vọng ra từ nhà thờ St Michael đã tò mò vào xem và được biết đang có thánh lễ hôn phối do Lm Thắng chủ lễ. Cô dâu là Nhung T. Nguyễn và chú rể là Lâm Thụy Nguyễn. Ông chỉ được Lm Thắng tiếp trong chốc lát vì không có hẹn và Cha bận phải đi dâng thánh lễ ở làng chài khác do nạn “lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”!

 Ngư phủ Việt thường trải lưới theo hướng Bắc-Nam thay vì Đông-Tây như ngư phủ Mỹ cho nên lưới thường bị vướng vào nhau gây cãi cọ. Họ cũng không hiểu cách thức cập bến và ý nghĩa của đèn báo hiệu cùng nhiều luật lệ khác mà nguyên nhân chính do bất đồng ngôn ngữ. Bà hiệu trưởng Susan Hunt của Gorenflo Elementary khen học sinh Việt giỏi toán, thủ công và học Anh ngữ mau hơn cha mẹ. Một nữ sinh Việt nhỏ bé 14 tuổi, mà ký giả Arden tưởng chỉ mới 8 tuổi, tâm sự từng chạy giặc VC nhiều lần ở VN, từng vượt biên với ghe nhỏ chứa 350 người đói khát và năm lần bị hải tặc Thái cướp bóc; nay lại bị bạn học Mỹ bắt nạt, chế giễu và đánh đập nhưng vẫn không bỏ học và nhún vai bảo “I don’t care”!

Bởi vậy cuộc đời tỵ nạn chưa kịp ổn định thì tai họa đã ập đến làng chài Empire ở Louisiana khi ngư phủ Mỹ địa phương than phiền có khoảng 35-40 ghe đánh cá của “VC, crooks” đến đây bắt tôm của họ và ngày càng dẫn theo nhiều ghe khác. Ở Biloxi MS cũng có than phiền tương tự cộng thêm mưa nhiều hồi tháng 4/1980 khiến mất mùa. Vụ nghiêm trọng nhất xảy ra hôm 3/8/1979 tại làng chài Seadrift, TX dân số hơn 1,000 người ở vịnh Galveston khi ngư phủ Nguyễn Văn Sáu 21t bắn chết Billy Joe Aplin 35t cao lớn nổi tiếng hay gây gổ và luôn để súng trong xe. Khi đến bót police trình diện, ông Sáu khai Aplin từng đe dọa, tấn công, phá ghe và trộm bẫy cua của người Việt. Cảnh sát biết nhưng không bao giờ can thiệp; để mặc Aplin đầu sỏ ngày càng lộng hành dù người Việt đã nhiều lần báo cáo xin bảo vệ. Hôm đó, Sáu đang ở trần hì hục kéo ghe thì bị Aplin đến đạp vào tay và ra lệnh “nếu bọn người Việt chúng mày không cút khỏi Seadrift, tao sẽ cắt cổ mày”! Sáu sợ hãi bỏ chạy liền bị hung thủ đâm 2 nhát dao vào ngực. Sáu cùng em là Nguyễn Văn Chính cố chạy đến nhà bạn mượn khẩu súng ngắn rồi trở lại bến tàu. Aplin vẫn còn đó liền nhào vào quật Sáu ngã xuống đất; buộc Sáu phải rút súng bắn vào ngực hung thủ khiến y rơi xuống nước và la lớn “Oh No, Man!”. Sáu không biết y có trúng đạn không và sợ y trở lên bờ tấn công nữa nên đã bắn bồi thêm một phát nữa khiến y chết dưới nước.

 Trong khi chờ tòa xử, căng thẳng Việt-Mỹ ngày càng tăng tại đây: 4 tàu đánh tôm của người Việt bị đốt, một nhà Việt bị ném bom. Giới nghiêm được ban hành từ 9pm. Đa số người Việt sợ bị tàn sát bèn chạy sang Houston TX hoặc Louisiana lánh nạn. Do đó, hãng cua hộp ở Seadrift phải đóng cửa vì thiếu công nhân. Bà B.T. Aplin, em của Billy Aplin đã hợp tác báo cảnh sát nên có 3 người da trắng bị bắt quả tang đang giữ thuốc nổ trong một phòng motel. Tuy vậy, người Việt tiếp tục bị kỳ thị với nhiều bảng “No Vietnamese Wanted” treo ở các bến, vựa; nhiều khẩu hiệu dán trên xe cộ như “Save your shrimp industry – Get rid of Vietnamese”. Ghe tôm người Việt không được cập bến. Vựa tôm không mua hàng của ngư phủ Việt và cả người da trắng mua tôm của người Việt cũng bị tẩy chay. Tình hình chưa kịp lắng dịu thì tòa án hôm 2/11/1979 đã tuyên bố tha bổng bị cáo Sáu và tòng phạm Chính vì lý do tự vệ chính đáng. Phán quyết này làm dân da trắng bất mãn khiến KKK nhảy vào vòng chiến. Sáu và Chính phải dọn đi khỏi Seafrift để tránh bị trả thù.

Cuối tháng 11/1979, KKK nộp đơn xin cho 600 hội viên (1/2 dân số của Seadrift) biểu tình chống người Việt tại đây nhưng bị bác đơn. Bố của Billy tuyên bố “hãnh diện có KKK đến giúp chận đứng làn sóng dân châu Á đến Seadrift”. Số dân Việt và Mễ ít ỏi còn lại (kể cả một số mới vừa quay lại đây sau khi bỏ đi trước đó) đã phải rời hẳn Seadrift. KKK lập đường dây xâm nhập vùng Galveston suốt một năm rưỡi để lập chiến khu gồm trại huấn luyện và lực lượng dân quân vũ trang; có BCH tại Santa Fe, TX, một town gồm toàn da trắng. HômValentine tháng 2/1981, 150 người da trắng đủ nam phụ lão ấu đã mặc đồng phục KKK biểu tình đốt thánh giá tại nhà người Việt, đốt hình nộm tàu “USS VietCong” và treo cổ hình nộm ngư phủ Việt hôm 15/3. Thủ lãnh KKK Texas là Louis Beam ra tối hậu thư cho CQLB hạn kỳ 90 ngày để cưỡng chế cấm người Việt đánh tôm trong vịnh Galveston; hoặc “KKK sẽ ra tay thi hành việc cưỡng chế này”! Beam tuyên bố “thời cơ đã điểm để ta giành lại đất nước này cho người da trắng . . . nếu muốn, ta sẽ giành lại bằng phương cách mà tổ tiên đã làm; đó là máu và máu”! Tại Seabrook có thêm 2 ghe đánh tôm của người Việt bị đốt.

Để giảm bớt tình hình căng thẳng này, CQLB và GHCG Mỹ đã phải ra tay can thiệp. TGM Philip Harman phạt “vạ tuyệt thông” các đầu sỏ CG kỳ thị trong vùng. Đại diện bộ Tư Pháp CQLB đến Seadrift điều tra; nhận thấy nguyên nhân mâu thuẫn phần lớn không hẳn do màu da mà do bất đồng ngôn ngữ; thế là, GHCG liền cung cấp một thông ngôn viên. TGM cũng cử một linh mục và phụ tá đến Seadrift để giảng hòa. Ngoài ra một phụ nữ da trắng làm ở restaurant nghe thực khách hội viên KKK bàn kế hoạch ném bom ghe đánh tôm của người Việt bèn về kể cho chồng; rồi ông chồng báo cho cộng đồng người Việt biết để đề phòng. CĐVN cũng đã trang bị vũ khí để tự vệ khiến vụ KKK bao vây để tấn công một khu trailer của người Việt bị thất bại từ trong trứng nước.

 Hội “Vietnamese Fishermen Association” thành lập tại đây đã nhờ “Southern Poverty Law Center” ở Montgomery, Alabama lập thủ tục nộp đơn kiện KKK hồi tháng 4/1981 vì bị cạnh tranh thương mại bất công. Quan tòa CQLB Gabrielle Kirk McDonald da đen đã ra phán quyết cấm KKK hoạt động tại vịnh Galveston, giải tán dân quân vũ trang KKK và đóng cửa trại huấn luyện quân sự KKK; tạo thuận lợi cho ngư phủ Việt ngày càng ổn định và thành công. Hầu hết chủ vựa tôm ở Galveston và 95% ngư phủ tại Port Arthur, TX là người Việt. Cuộc chiến tranh người Việt chống KKK đã kết thúc toàn thắng khi một cựu chiến binh Mỹ giấu tên từng tham chiến ở Việt Nam đã khuyên thủ lãnh KKK “Don’t mess with Vietnamese” vì họ từng trải chiến tranh suốt đời họ và chẳng coi súng đạn ra gì; họ sẽ chống trả quyết liệt và giết quý vị để tự vệ! Ngay cả một nữ sinh còm cõi 14 tuổi của Gorenflo Elementary ở Biloxi, bị bạn học da trắng cô lập, chế nhạo và đánh đập, cũng vẫn kiên trì bám trường và tuyên bố với ký giả Harvey Arden rằng “I don’t care”; huống hồ gì thế hệ cha mẹ ngư phủ dầy dạn bão tố của cô bé! Thế rồi, đạo quân khủng bố KKK khét tiếng nước Mỹ chỉ còn biết lặng lẽ khăn gói rút lui trong thất trận nhục nhã! Rồi thế hệ sau của ngư phủ “Ba Nguyễn” tại “chiến trường” Biloxi, anh Sonny Nguyễn cũng đã lặng lẽ chinh phục, “cua” lấy em Veronica da trắng làm vợ; sản sinh ra thế hệ thứ ba hợp chủng Christopher kháu khỉnh và khỏe mạnh; chủ nhân tương lai của kỹ nghệ tôm không đối thủ!

 Trở lại chính trường Mỹ Tk 21,  năm 2020 chứng kiến một làn sóng bạo loạn chưa từng thấy kể từ thập niên 1960s nói chung và thập niên 1970s – 1980s với nạn nhân ngư phủ Việt nói riêng. Sau cái chết của Georges Floyd dưới tay cảnh sát Minneapolis, phong trào Black Lives Matter được đảng DC ủng hộ đã tổ chức hàng ngàn cuộc biểu tình trên toàn quốc. Phần lớn các cuộc biểu tình (93-96%) diễn ra “ôn hòa” theo truyền thông tả phái. Nhưng phần còn lại — dù chỉ chiếm vài phần trăm (theo media tả phái) — đã gây ra thiệt hại khổng lồ: ước tính từ 1 đến 2 tỷ USD tiền bảo hiểm cho tài sản bị phá hủy; vượt qua kỷ lục của vụ bạo loạn Los Angeles năm 1992. Tại Portland, Oregon, bạo loạn diễn ra hơn 100 đêm liên tiếp. Hơn 2.000 cảnh sát bị thương. Ít nhất 25 người thiệt mạng liên quan đến các vụ này. Điều đáng chú ý là phản ứng của giới lãnh đạo đảng Dân Chủ. Thay vì dứt khoát lên án bạo loạn, nhiều chính trị gia DC tìm cách biện minh hoặc giảm nhẹ hậu quả. Các thị trưởng Dân Chủ tại nhiều thành phố lớn — Portland, Seattle, Minneapolis, New York City, LA, Chicago — bị chỉ trích vì không kiên quyết ngăn chặn bạo loạn; thậm chí còn ra lệnh cho cảnh sát rút lui. Một số công khai ủng hộ khẩu hiệu “Defund the Police” (cắt giảm ngân sách cảnh sát) ngay giữa lúc bạo lực đang leo thang. Phó TT Kamala Harris đảng DC đã công khai lập link quyên góp cho quỹ bảo lãnh tại ngoại nhằm giúp những kẻ cướp bạo loạn bị bắt trong các cuộc biểu tình được thả.

 Dù phong trào BLM không phải là tổ chức chính thức của đảng Dân Chủ (cũng như KKK trước kia không phải chi bộ chính thức của đảng này), nhưng mối quan hệ cộng sinh là rõ rang: Đảng Dân Chủ xem phong trào BLM như đồng minh chính trị; các lãnh đạo Dân Chủ quỳ gối, quàng  khăn “kente” trong US Capitol để mặc niệm tội phạm hình sự Georges Floyd ; và hàng triệu USD từ các nhà tài trợ của BLM chảy vào các chiến dịch tranh cử của đảng Dân Chủ. Khi bạo lực xảy ra dưới ngọn cờ của một phong trào được đảng bảo trợ, câu hỏi về trách nhiệm chính trị là không thể né tránh. Hôm 10/9/2025, Charlie Kirk, sáng lập viên tổ chức “Turning Point USA”, đồng minh thân cận của TT Trump và là một trong những tiếng nói bảo thủ có ảnh hưởng nhất với giới trẻ Mỹ đã bị bắn chết tại Đại học Utah Valley khi mới 31 tuổi. Một tay súng thiên tả ẩn nấp trên mái nhà cách xa 130 mét đã bắn một phát đạn trúng cổ Kirk trong khi anh đang diễn thuyết trước khoảng 3.000 sinh viên. Tyler James Robinson, 22 tuổi (từng gởi tiền tài trợ ứng cử viên đảng DC) bị bắt vào ngày hôm sau và bị truy tố tội giết người có chủ đích vì động cơ chính trị.

 Trước đó, chính Trump đã hai lần suýt bị ám sát trong năm 2024: Hôm 13/7, Thomas Crooks (cha mẹ khai y là employee của Biden FBI) bắn 8 phát đạn vào Trump tại cuộc vận động tranh cử ở Butler, Pennsylvania. Viên đạn (theo ý Trời) chỉ sượt qua vành tai phải của ông, giết chết một khán giả và làm bị thương nặng hai người khác. Hai tháng sau, hôm 15/9, Ryan Wesley Routh mang súng trường ẩn nấp tại CLB golf của Trump ở Florida; bị phát giác trước khi kịp nổ súng. Routh (người đã tài trợ cho các ứng cử viên Dân Chủ, bỏ phiếu trong cuộc bầu cử sơ bộ của DNC hồi 2024, và viết trên mạng xã hội rằng Trump “không xứng đáng làm bất cứ điều gì, huống chi là tổng thống Mỹ”) đã bị kết án tù chung thân.

  Gần đây nhất, hôm 25/4/2026, Cole Tomas Allen 31t từ Torrance, California mang súng ngắn, súng săn, và nhiều dao nhọn, đã vượt trạm security tại hotel Washington Hilton trong dạ tiệc thường niên dành cho “White House correspondents”, nơi TT Trump và phu nhân tham dự. TT Trump được mật vụ kéo khỏi sân khấu khi có tiếng súng nổ. Allen bị bắt tại chỗ và bị truy tố tội mưu sát tổng thống. Trong một tin nhắn gửi gia đình vài phút trước khi ra tay, Allen tự gọi mình là “friendly federal assassin” (sát thủ LB thân thiện) và bày tỏ loạt bất bình chống các chính sách của CQ Trump. Đây là lần thứ ba trong chưa đầy 2 năm, một tổng thống Mỹ đương nhiệm suýt bị ám sát, một mật độ bạo lực chính trị đầu Tk 21 chưa từng có trong lịch sử Mỹ hiện đại.

 Xếp các sự kiện này với nhau (từ chiếc gậy đầu vàng của Preston Brooks hồi 1856, đến khẩu súng của John Wilkes Booth 1865, đến những ngọn đuốc và dây thòng lọng của KKK thời Tái Thiết, đến Robert Byrd ngồi vững trong US Senate suốt hơn nửa thế kỷ, đến các đám cháy và cửa hàng bị cướp phá hồi 2020, đến viên đạn giết Charlie Kirk hồi 2025, và 3 lần ám sát hụt TT Trump [2024 – 2026]), một mô hình xuất hiện; tuy không “vơ đũa cả nắm”, nhưng cho thấy rằng, xuyên suốt lịch sử Mỹ, mỗi khi đảng Dân Chủ đối mặt với thách thức chính trị mà họ không thể chiến thắng bằng tranh luận (chế độ pro-slavery bị đe dọa, quyền lực thiên tả và marxist bị xói mòn, trật tự communist bị thách thức, đối thủ chính trị GOP ngày càng mạnh) thì bạo lực (hoặc sự dung túng cho bạo lực), đã xuất hiện như một phản ứng tái diễn liên tục.

 Hiện tượng từ chiếc gậy vỡ trong Senate 1856 đến viên đạn hèn mọn trên sân University 2025, khoảng cách 169 năm vượt lằn ranh xuyên thế kỷ vốn thừa chiều dài để minh chứng rằng khi lời tuyên truyền của đảng tham quyền không đủ mạnh thì bạo lực sẽ được đảng dùng thay thế; nấp dưới slogans “đao to búa lớn” nhân danh ô dù “constitution”, “no one is above the law”, “free bus tickets”, “free grocery”, “DEI policy”, “free rents”, “transgendering rights”, “no-gender public restrooms”, “peace”, “justice”, “democracy”, “mandate-vote by mail”, “no-ID for elections”, “đực rựa chuyển giới [fake] đấu nữ môn sports”… blab bla bla …

 HÀ BẮC

(tham khảo tài liệu của Harvey Arden, National Geographic và các tài liệu cập nhật khác)

 

 

Tuesday, 5 May 2026

Lịch Sử Bạo Lực Chính Trị Của Đảng Dân Chủ

 

Chiều ngày 22 tháng 5 năm 1856, Nghị sĩ Liên bang Charles Sumner đang ngồi cắm cúi ký tên lên các bản sao bài diễn văn của mình tại phòng họp Thượng viện Hoa Kỳ. Ông không hề hay biết rằng Preston Brooks — một Dân biểu Đảng Dân Chủ đến từ South Carolina — đang lặng lẽ tiến lại phía sau. Brooks nâng chiếc gậy đầu vàng lên rồi giáng xuống đầu Sumner không thương tiếc, hết nhát này đến nhát khác, cho đến khi chiếc gậy vỡ nát và Sumner nằm bất động trong vũng máu.


Vụ hành hung đó không phải là hành động bột phát của một cá nhân mất kiểm soát. Nó là sản phẩm có tính toán của một nền văn hóa chính trị mà bạo lực được xem như công cụ hợp pháp để bảo vệ quyền lợi phe phái. Và nền văn hóa ấy, nếu ta nhìn theo một dòng chảy lịch sử nhất quán, đã bắt đầu từ Đảng Dân Chủ.

Charles Sumner là Thượng nghị sĩ Cộng Hòa thuộc tiểu bang Massachusetts, một nhà lập pháp có lập trường bãi bỏ chế độ nô lệ kiên quyết. Hai ngày trước khi bị hành hung, ông đã đọc bài diễn văn dài năm tiếng đồng hồ mang tên "Tội Ác Chống Lại Kansas", trong đó ông chỉ trích gay gắt các thượng nghị sĩ ủng hộ chế độ nô lệ, đặc biệt là Andrew Butler — họ hàng của Brooks. Sumner dùng ngôn ngữ sắc bén, so sánh Butler với Don Quixote đang ôm ấp một người tình xấu xí — tức chế độ nô lệ.

Brooks không chọn cách phản bác bằng lập luận. Ông ta cũng không thách đấu tay đôi theo phong cách quý tộc miền Nam. Thay vào đó, sau khi tham khảo ý kiến với Dân biểu Laurence Keitt — cũng thuộc Đảng Dân Chủ — Brooks quyết định rằng Sumner "không xứng đáng được đối xử như một quý ông" và chỉ đáng bị đánh đòn nhục nhã như một kẻ hạ đẳng. Keitt và một đồng minh khác đi theo Brooks vào phòng họp, đứng chặn để không ai can thiệp trong khi Brooks ra tay.

Sumner bị thương nặng đến mức mất ba năm mới hồi phục đủ để trở lại Thượng viện. Ông mang di chứng chấn thương sọ não suốt đời.

Còn Brooks? Ông ta bị phạt 300 đô la — tương đương khoảng 10.000 đô la ngày nay — và không hề ngồi tù một ngày nào. Khi Hạ viện bỏ phiếu trục xuất, phe Dân Chủ bảo vệ ông ta đủ để ngăn chặn đa số hai phần ba cần thiết. Brooks tự từ chức rồi lập tức được cử tri tái bầu trong cuộc bầu cử đặc biệt.

Các bang miền Nam gửi hàng chục chiếc gậy mới làm quà, có chiếc khắc dòng chữ: "Đánh tốt lắm."

Điều đáng suy ngẫm không chỉ là hành vi bạo lực của một cá nhân, mà là phản ứng tập thể của Đảng Dân Chủ. Miền Nam thuộc Dân Chủ tôn vinh Brooks như anh hùng. Các nghị sĩ Đảng Dân Chủ đeo nhẫn làm từ mảnh gậy vỡ quanh cổ như biểu tượng đoàn kết. Tờ Richmond Enquirer viết rằng "những kẻ bãi nô thô lỗ trong Thượng viện cần phải bị đánh cho khuất phục." Bạo lực không bị lên án — nó được chế độ hóa, được biểu dương, được biến thành bản sắc chính trị.

Sử gia William Gienapp đã kết luận rằng vụ hành hung Sumner là sự kiện then chốt giúp Đảng Cộng Hòa non trẻ — vốn được thành lập chỉ hai năm trước đó — chuyển mình thành một lực lượng chính trị thực sự. Bởi vì cử tri phương Bắc nhìn thấy trong vụ này bộ mặt thật của phe ủng hộ nô lệ: họ sẵn sàng dùng vũ lực để bịt miệng đối thủ ngay giữa lòng cơ quan lập pháp cao nhất của quốc gia.

Chín năm sau vụ Sumner, bạo lực chính trị không còn dừng ở mức đánh đập. Nó leo thang thành ám sát tổng thống.

Tối ngày 14 tháng 4 năm 1865, John Wilkes Booth — một diễn viên nổi tiếng và là người ủng hộ nhiệt thành Liên minh miền Nam — lẻn vào hộp riêng tại Nhà hát Ford, nơi Tổng thống Abraham Lincoln đang xem vở kịch Our American Cousin, rồi bắn một phát đạn vào sau đầu vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ. Lincoln qua đời sáng hôm sau.

Thuở thiếu thời, Booth từng hoạt động với đảng Know-Nothing, một đảng bài ngoại. Tuy nhiên, toàn bộ hệ tư tưởng chính trị của Booth — ủng hộ chế độ nô lệ, thù ghét Lincoln, coi người da đen là hạ đẳng, tôn sùng quyền lợi miền Nam — hoàn toàn trùng khớp với nền tảng tư tưởng của Đảng Dân Chủ thời kỳ đó. Booth tin rằng Lincoln đang phá hủy Hiến pháp và tiêu diệt nền văn minh miền Nam. Ông ta hành động không chỉ vì thù hận cá nhân mà vì một tầm nhìn chính trị — cứu vãn Liên minh miền Nam bằng cách chặt đầu chính phủ liên bang.

Booth la lên "Sic semper tyrannis!" — "Số phận luôn dành cho bạo chúa là thế!" — rồi nhảy xuống sân khấu và tẩu thoát. Câu khẩu hiệu đó không phải lời nói ngẫu hứng. Nó là tuyên ngôn của một hệ tư tưởng coi việc giết hại đối thủ chính trị như hành động anh hùng.

Lincoln — vị tổng thống Cộng Hòa đầu tiên, người đã giải phóng hàng triệu nô lệ, người đã chiến thắng nội chiến để bảo toàn Liên bang — bị sát hại bởi một người mà toàn bộ niềm tin chính trị đều nằm trong quỹ đạo tư tưởng của Đảng Dân Chủ miền Nam thời kỳ đó. Đây không phải sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đây là kết quả logic của một nền văn hóa chính trị đã coi bạo lực là phương tiện chính đáng kể từ vụ Sumner.

Nếu vụ Sumner là bạo lực cá nhân và vụ Lincoln là ám sát chính trị, thì Ku Klux Klan là bước tiến tiếp theo: bạo lực có hệ thống, có tổ chức, có quy mô.

KKK được thành lập vào ngày 24 tháng 12 năm 1865 tại Pulaski, Tennessee, bởi sáu cựu sĩ quan quân đội Liên minh miền Nam. Ban đầu được mô tả như một "câu lạc bộ xã hội", tổ chức này nhanh chóng biến thành một bộ máy khủng bố có mục đích rõ ràng: đè bẹp quyền lực chính trị của người da đen và Đảng Cộng Hòa tại miền Nam trong thời kỳ Tái Thiết.

Mối liên hệ giữa KKK và Đảng Dân Chủ thời kỳ này là không thể phủ nhận, dù cần được hiểu đúng bối cảnh. KKK không phải là một "chi nhánh chính thức" của Đảng Dân Chủ. Nhưng trong thực tế, nó hoạt động như cánh tay vũ trang của các chính trị gia Đảng Dân Chủ miền Nam. Tướng Nathan Bedford Forrest — được cho là Grand Dragon đầu tiên của KKK — đã phát biểu tại Đại hội Quốc gia Đảng Dân Chủ năm 1868. Các thành viên KKK đe dọa, đánh đập, và giết hại cử tri Cộng Hòa — cả da đen lẫn da trắng — để đảm bảo chiến thắng cho ứng cử viên Dân Chủ.

Tại Louisiana, hơn 2.000 người bị giết, bị thương, hoặc bị tấn công chỉ trong vài tuần trước cuộc bầu cử tổng thống năm 1868. Tại một giáo xứ có đa số đăng ký Cộng Hòa là 1.071 phiếu, sau các vụ giết người, không một cử tri Cộng Hòa nào đi bỏ phiếu. KKK ép buộc người dân bỏ phiếu cho Đảng Dân Chủ rồi cấp cho họ giấy chứng nhận.

Đây không phải bạo lực tự phát. Đây là khủng bố có tổ chức nhằm thao túng kết quả bầu cử — và nó phục vụ trực tiếp cho lợi ích của Đảng Dân Chủ.

Và cái bóng của KKK không chỉ dừng lại ở thế kỷ 19. Robert C. Byrd — Thượng nghị sĩ Dân Chủ từ West Virginia, người phục vụ tại Quốc hội dài nhất trong lịch sử nước Mỹ với hơn 57 năm — chính là cựu thành viên KKK cuối cùng từng phục vụ trong Quốc hội Hoa Kỳ. Trong thập niên 1940, Byrd không chỉ gia nhập KKK mà còn tổ chức và lãnh đạo một chi hội địa phương, được bầu làm Exalted Cyclops — chức vụ cao nhất trong đơn vị Klan cơ sở.

Năm 1944, Byrd viết thư cho Thượng nghị sĩ phân biệt chủng tộc Theodore Bilbo, tuyên bố rằng ông "sẽ không bao giờ chiến đấu trong quân đội bên cạnh một người da đen." Năm 1964, Byrd đích thân filibuster Đạo luật Dân quyền suốt 14 tiếng đồng hồ. Dù sau này Byrd gọi việc gia nhập KKK là "sai lầm lớn nhất đời tôi" và dần chuyển sang ủng hộ dân quyền, sự thật vẫn là: Đảng Dân Chủ đã bầu và tái bầu một cựu lãnh đạo KKK vào Thượng viện suốt hơn nửa thế kỷ — từ năm 1959 cho đến khi Byrd qua đời năm 2010. Khi ông mất, Tổng thống Barack Obama, Phó Tổng thống Joe Biden, và cựu Tổng thống Bill Clinton đều đọc điếu văn tại lễ tang. Điều đó nói lên rất nhiều về mức độ mà Đảng Dân Chủ sẵn sàng bỏ qua quá khứ bạo lực và phân biệt chủng tộc khi nó phục vụ cho lợi ích quyền lực của đảng.

Nhảy qua hơn một thế kỷ, năm 2020 chứng kiến một làn sóng bạo loạn chưa từng thấy kể từ thập niên 1960. Sau cái chết của George Floyd dưới tay cảnh sát Minneapolis, phong trào Black Lives Matter đã tổ chức hàng ngàn cuộc biểu tình trên toàn quốc. Phần lớn các cuộc biểu tình diễn ra ôn hòa — các nghiên cứu ước tính khoảng 93% đến 96% là hòa bình.

Nhưng phần còn lại — dù chỉ chiếm vài phần trăm — đã gây ra thiệt hại khổng lồ: ước tính từ 1 đến 2 tỷ đô la tiền bảo hiểm cho tài sản bị phá hủy, vượt qua kỷ lục của vụ bạo loạn Los Angeles năm 1992. Tại Portland, Oregon, bạo loạn diễn ra hơn 100 đêm liên tiếp. Hơn 2.000 cảnh sát bị thương. Ít nhất 25 người thiệt mạng liên quan đến các vụ bất ổn.

Điều đáng chú ý là phản ứng của giới lãnh đạo Đảng Dân Chủ. Thay vì lên án dứt khoát bạo lực, nhiều chính trị gia Dân Chủ tìm cách biện minh hoặc giảm nhẹ. Các thị trưởng Dân Chủ tại nhiều thành phố lớn — Portland, Seattle, Minneapolis, New York — bị chỉ trích vì không kiên quyết ngăn chặn bạo loạn, thậm chí ra lệnh cho cảnh sát rút lui. Một số công khai ủng hộ khẩu hiệu "Defund the Police" — cắt giảm ngân sách cảnh sát — ngay giữa lúc bạo lực đang leo thang. Phó Tổng thống Kamala Harris đã chia sẻ đường link quyên góp cho quỹ bảo lãnh tại ngoại nhằm giúp những người bị bắt trong các cuộc biểu tình được thả.

Dù phong trào BLM không phải là tổ chức chính thức của Đảng Dân Chủ — cũng như KKK ngày xưa không phải chi nhánh chính thức — nhưng mối quan hệ cộng sinh là rõ ràng. Đảng Dân Chủ xem phong trào BLM như đồng minh chính trị; các lãnh đạo Dân Chủ quỳ gối mặc khăn kente trong Điện Capitol; và hàng triệu đô la từ các nhà tài trợ của BLM chảy vào các chiến dịch tranh cử Dân Chủ. Khi bạo lực xảy ra dưới ngọn cờ của một phong trào được đảng bảo trợ, câu hỏi về trách nhiệm chính trị là không thể né tránh.

Ngày 10 tháng 9 năm 2025, Charlie Kirk — người sáng lập tổ chức Turning Point USA, đồng minh thân cận của Tổng thống Trump, và một trong những tiếng nói bảo thủ có ảnh hưởng nhất với giới trẻ Mỹ — bị bắn chết tại Đại học Utah Valley. Kirk mới 31 tuổi. Một tay súng ẩn mình trên mái nhà cách xa 130 mét đã bắn một phát đạn trúng cổ Kirk trong khi anh đang diễn thuyết trước khoảng 3.000 người. Tyler James Robinson, 22 tuổi, bị bắt vào ngày hôm sau và bị truy tố tội giết người có chủ đích vì động cơ chính trị.

Trước đó, chính Donald Trump đã hai lần suýt bị ám sát trong năm 2024. Ngày 13 tháng 7, Thomas Crooks bắn tám phát đạn vào Trump tại một cuộc mít-tinh ở Butler, Pennsylvania, viên đạn sượt qua tai phải của ông, giết chết một khán giả và làm bị thương nặng hai người khác. Hai tháng sau, ngày 15 tháng 9, Ryan Wesley Routh mang súng trường ẩn nấp tại câu lạc bộ golf của Trump ở Florida và bị phát hiện trước khi kịp nổ súng. Routh — người đã quyên góp cho các ứng cử viên Dân Chủ, bỏ phiếu trong cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân Chủ năm 2024, và viết trên mạng xã hội rằng Trump "không xứng đáng làm bất cứ điều gì, huống chi là tổng thống Mỹ" — đã bị kết án tù chung thân.

Và mới đây nhất, ngày 25 tháng 4 năm 2026, Cole Tomas Allen — 31 tuổi, từ Torrance, California — mang theo súng ngắn, súng săn, và nhiều con dao, xông qua trạm kiểm soát an ninh tại khách sạn Washington Hilton trong đêm Tiệc Phóng Viên Nhà Trắng, nơi Tổng thống Trump đang dự tiệc. Một phát súng vang lên, Trump bị mật vụ kéo khỏi sân khấu trong khi khách mời nằm rạp xuống gầm bàn. Allen bị bắt tại chỗ và bị truy tố tội mưu sát tổng thống. Trong một tin nhắn gửi gia đình vài phút trước khi ra tay, Allen tự gọi mình là "Friendly Federal Assassin" — "Sát Thủ Liên Bang Thân Thiện" — và bày tỏ hàng loạt bất bình đối với các chính sách của chính quyền Trump. Đây là lần thứ ba trong chưa đầy hai năm, một tổng thống đương nhiệm suýt bị ám sát — một mật độ bạo lực chính trị chưa từng có trong lịch sử hiện đại Hoa Kỳ.

Khi ta xếp các sự kiện này cạnh nhau — từ chiếc gậy đầu vàng của Preston Brooks năm 1856, đến khẩu súng của John Wilkes Booth năm 1865, đến những ngọn đuốc và dây thòng lọng của KKK thời Tái Thiết, đến Robert Byrd ngồi vững trong Thượng viện suốt hơn nửa thế kỷ, đến các đám cháy và cửa hàng bị cướp phá năm 2020, đến viên đạn giết chết Charlie Kirk năm 2025, và ba lần suýt giết Donald Trump từ năm 2024 đến 2026 — một mô hình xuất hiện.

Mô hình đó không phải là: "Tất cả người Dân Chủ đều ủng hộ bạo lực." Nhưng mô hình cho thấy rằng, xuyên suốt lịch sử Mỹ, mỗi khi Đảng Dân Chủ đối mặt với thách thức chính trị mà họ không thể chiến thắng bằng tranh luận — chế độ nô lệ bị đe dọa, quyền lực miền Nam bị xói mòn, trật tự xã hội bị thách thức, đối thủ chính trị ngày càng mạnh — thì bạo lực, hoặc sự dung túng bạo lực, đã xuất hiện như một phản ứng lặp đi lặp lại.

Từ chiếc gậy vỡ trong Thượng viện đến viên đạn trên sân trường đại học, khoảng cách là 169 năm. Nhưng logic bên trong — chứng mình rằng khi lời nói không đủ sức mạnh thì bạo lực sẽ thay thế, và bạo lực có thể được biện minh khi phục vụ "mục đích đúng đắn" — vẫn tồn tại dai dẳng.

Câu hỏi mà lịch sử đặt ra là: tại sao một đảng phái có thể liên tục sản sinh ra, dung dưỡng, hoặc không dứt khoát lên án bạo lực chính trị — từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 21 — mà vẫn tự nhận mình là đảng của hòa bình, công lý, và dân chủ?

Đó là câu hỏi mà mỗi công dân Mỹ — bất kể đảng phái — cần phải đối mặt.

Vô Danh

 

Saturday, 2 May 2026

Câu chuyện kể

 Câu Chuyện Kể Của Một Người Chiến Thắng Khi Vào Nam – Chỉ có người TRI THỨC mới biết mình bị lừa.

 Ký Ức Một Thanh Niên Hà Nội Về Ngày 30-4-1975

Lời mở đầu của tác giả Phạm Thắng Vũ:

Bạn đang ở đâu? Làm gì trong cái ngày 30-4-1975? Có thể ngày đó là ngày chào đời của một em bé (mà giờ đây em bé đó đã con cái đầy nhà), hoặc là lúc chấm dứt sinh mệnh của một người như trường hợp của Trung tá Cảnh Sát Quốc Gia miền Nam VNCH Nguyễn Văn Long. Tất nhiên, người đó không thể ngồi kể cho chúng ta nghe về những giây phút... lịch sử khi đấy nhưng bạn bè, thân nhân bên cạnh vẫn có thể kể lại. Võ Văn Kiệt, một lãnh tụ Việt Cộng miền Nam khi hồi ức lại cái ngày lịch sử này đã nói: " 30 tháng Tư năm 1975 có hàng triệu người vui thì cũng có hàng triệu người buồn ". Bùi Tín, một cựu sĩ quan CS Bắc Việt trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên (ICCS) đã chua chát: "... tự hổ thẹn từng cao ngạo vô duyên về chuyện vào dinh Độc Lập sớm, xế trưa 30-4, vớ vẩn, lạc điệu cả, cá nhân lầm lạc, ngộ nhận hết ".

Bài dưới đây là tâm tình của anh H, một người bà con trong họ đã kể cho nghe, PTV chép lại.

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi đang ngồi trong căng tin của nhà máy Hoá Chất Việt Trì thì tai nghe những tiếng la hét ầm ĩ vui nhộn từ phòng thông tin của Công Đoàn nhà máy. " Thắng rồi... Ta thắng rồi... Dương Văn Minh đầu hàng rồi... ", tôi bỏ dở cốc nước chè và cùng vài người chạy vội ra xem chuyện gì. Một nhóm công nhân đang vây chung quanh anh Minh, thư ký Công Đoàn cho biết tin vừa nhận được qua đài Tiếng Nói Việt Nam là quân ta đã chiếm được Dinh Độc Lập, bắt Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng. Nghe vậy, những tiếng hét lớn vui mừng một lần nữa lại vang lên. Những ngày trước đây, kể từ sau trận đánh vào Buôn Mê Thuột, Đoàn Thanh Niên Lao Động Hồ Chí Minh của nhà máy đã làm một áp phích lớn vẽ bản đồ của 44 Tỉnh miền Nam Việt Nam Cộng Hòa và dựng nó gần cổng ra vào. Trên tấm áp phích đó, cứ mỗi khi được tin quân ta giải phóng thêm tỉnh nào thì lập tức tỉnh đó được vẽ một lá cờ Đỏ sao Vàng ngay. Tôi đã thấy càng lúc càng nhiều lá cờ Đỏ sao Vàng xuất hiện trên tấm áp phích chỉ trong một thời gian ngắn đến nỗi phải hoài nghi, dù không nói ra mặt. Bây giờ, điều nghi ngờ đó đã thật rồi, mừng quá đi. Thôi từ nay là hết chiến tranh và những thanh niên miền Bắc sẽ không còn phải xuôi Nam chiến đấu trong chiến trường B nữa. Và điều quan trọng tôi sẽ gặp lại người cha ruột đã xa cách gia đình tới 21 năm rồi. Hôm đó, như để cùng chào mừng với niềm vui lớn của đất nước, trừ những khâu cần phải vận hành máy chạy liên tục còn tất cả các khâu lao động trong các phân xưởng và các phòng ban khác được ban lãnh đạo nhà máy cho nghỉ việc sớm để mang tin vui về cho gia đình biết. Tôi phóng nhanh xe đạp về nhà báo tin cho mẹ tôi biết ngay tin vui này.

Về đến nhà, dắt xe vào trong, chưa kịp khoe tin thì mẹ tôi đã nói: " Sao nay con về sớm vậy? Bộ đội vào tới Sài Gòn rồi con biết chưa? ". Tôi trả lời mẹ là đã biết, được nhà máy cho về sớm định kể mẹ nghe đây. Mẹ tôi ngồi ở bàn sát cửa sổ như đang suy nghĩ điều gì. Tôi cởi áo đi ra giếng nước sau nhà múc nước tắm sau đó quay trở vào mà vẫn thấy mẹ tôi ngồi yên tại chỗ. Tôi bước lại bên bà, hỏi: " U sao vậy? " và đặt tay tôi lên trán bà, tiếp: " U cảm hay sao nói cho con biết với ". Nhưng bà nhìn tôi, miệng cười mỉm, trả lời:

– Không con. Mẹ khoẻ mà... có điều mẹ đang nghĩ về thầy con thôi. Không biết thầy con bây giờ trong đó đang như thể nào?

Nghe thế, tôi đi mở cái tủ gỗ gụ cũ, lục lọi rồi lấy ra tấm ảnh đen trắng chụp chân dung cha tôi đã cũ, ố vàng. Quên nói, mẹ tôi thường gọi cha tôi bằng Thầy và tôi gọi mẹ bằng U. Trong ảnh, một người đàn ông mặc bộ đồ trận rằn ri, ánh mắt nghiêm nghị, đứng cạnh lề đường một khu nào đó trong thành phố Sài Gòn của miền Nam. Tấm ảnh này là tấm duy nhất, gia đình nhận được từ cha tôi, khi hai miền Nam-Bắc còn liên lạc được bằng thư từ.

Cha tôi, theo lời mẹ kể lại là một chiến binh trong lực lượng Dù thuộc quân đội Liên Hiệp Pháp. Những ngày cuối cuộc chiến năm 1954, đơn vị ông được máy bay thả xuống tiếp sức cho căn cứ Điện Biên Phủ đang bị vây hãm để không lâu sau đó, căn cứ nầy lọt vào tay bộ đội Việt Minh. May mắn thoát chết, bị bắt làm tù binh một thời gian ngắn rồi ông được trả tự do và theo đơn vị quay về Hà Nội. Những ngày cuối của Hiệp Định Geneva, ông đã cho người về quê Sơn Tây đón mẹ con tôi lên để cùng ông vào miền Nam nhưng chuyện không thành, ông phải theo đơn vị vô Sai Gòn trước. Thực ra chuyến đi ra Hà Nội khi đó, đoàn người làng có hai mẹ con tôi đã bị cán bộ Việt Minh lừa đưa vào tạm trú trong khu rừng vắng. Khi đoàn người được phép ra khỏi rừng thì thời hạn di cư đã qua, gia đình bị chia cắt từ đó lúc tôi mới được gần một tuổi.

Hai mẹ con quay trở về Hà Nội sống trong gian nhà của ông ngoại tôi. Là dân thành thị, mẹ tôi biết cắt may quần áo rất khéo và nhờ cái tài này mà bà đã nuôi tôi ăn học tới khi lớn. Tôi được nghe kể là các cán bộ đã tìm bà để đặt may quần áo cho họ rồi khi các Hợp Tác Xã May Mặc giải thể, bà đã tìm mua sở hữu thực thụ được một máy may cũ và nhờ vậy mà cuộc sống đỡ vất vả so với nhiều người khác. Tuổi ấu thơ của tôi gắn liền với thành phố Hà Nội từ những làn sương mờ buổi ban mai trên mặt Hồ Tây, mùi không khí đường phố quyện với lá cây sau các cơn mưa rào. Những buổi trưa mùa Hè, trốn mẹ đi chơi, tôi cùng chúng bạn kéo nhau lang thang vào vườn bách thảo, quanh các bờ hồ hoặc trèo lên những cây bên vệ đường để tìm bắt các chim non còn trong tổ. 

Có khi lại rình ném đá vào nhà hàng xóm buổi nghỉ trưa để rồi cả bọn ù té chạy khi chủ gia mở cửa ra nhìn. Khi tuổi lớn hơn, tôi mới nhận ra những khác biệt giữa mình và các bạn đồng trang lứa mỗi lần nghe chuyện chiến tranh về miền Nam. Có những buổi sinh hoạt chung mà người phụ trách không cho tôi tham dự. Lúc đó, tôi cũng không hiểu tại sao? Có khi về hỏi mẹ thì bà chỉ thở dài, nói vắn tắt: " Thôi con, họ không cho sinh hoạt thì về nhà với mẹ ". Rồi những năm chiến tranh lan ra miền Bắc. Máy bay Mỹ ném bom nhiều nơi và rồi ngay ở cả Hà Nội nữa. Những đợt bom chùm tuốt từ trên mây rải xuống đã phá huỷ nhiều khu phố lớn. Cảnh người chết mất xác trong các đống gạch vụn cùng lửa khói cháy nghi ngút khiến ai cũng sợ. 

Đành phải kéo nhau đi sơ tán về các miền quê cho an toàn. Hai mẹ con tôi về quê nội trong một làng ở tỉnh Sơn Tây cũ. Đây là vùng bán sơn địa có ruộng có vườn cùng các núi đồi rất đẹp. Trong làng có nhiều đứa thiếu niên trạc tuổi tôi và tôi rất muốn làm bạn cùng chơi với chúng nhưng họ không thích tôi ra mặt. Trẻ em đã vậy mà người lớn cũng nói xấu, dèm pha sau lưng mẹ tôi mỗi khi họ gặp mặt nhau trên đường hoặc trong phiên chợ. Tôi đành kết bạn với mẹ thôi, không ai khác.

Đến tuổi trưởng thành, thấy nhiều thanh niên xung phong vào bộ đội, tôi cũng giơ tay xung phong nhưng bị cán bộ trong Ban Tuyển Quân từ chối. Tuổi thanh niên, hình ảnh người chiến sĩ với cây súng cuốn hút tôi lắm nhưng họ không nhận thì đành chịu. Về kể lại cho mẹ tôi biết, bà chép miệng nói làm sao họ cho con vào bộ đội được rồi trách khẽ: " Có mỗi một mình mẹ mà con định bỏ đi sao! ". Thêm vào đó, tôi rất chật vật khi xin một việc làm. Đơn gửi tận tay nhiều nơi mà không hề có chút hồi báo làm tôi buồn. Không lẽ thân đã lớn lại cứ để mẹ phải nuôi mình mãi nhưng đi xin việc không ra. 

Tôi có lúc nhủ thầm chắc số mình đến phải làm ruộng nhưng ruộng, nhà cũng không có. May mắn làm sao, mẹ tôi tình cờ gặp lại một người bạn học cũ với bà năm xưa khi còn trẻ. Người này nay đã là một cán bộ cao cấp và nhờ sự giúp đỡ của ông ta, tôi mới được vào làm việc trong nhà máy Hoá Chất Việt Trì. Rồi cũng nhờ ông ta giúp mà tôi mới được công đoàn nhà máy phân phối cho một phòng nhỏ ở trong khu tập thể. Tôi đưa mẹ lên đó cùng sống chung.

Hai tháng sau cái ngày chiến thắng miền Nam, mẹ tôi về lại Hà Nội để dò hỏi tung tích của cha tôi. Trong họ hàng bên nội, khi đó thì đã có người vào miền Nam công tác rồi và nhờ thế đã tìm được các thân nhân theo các địa chỉ cũ năm xưa. Khi quay trở lại miền Bắc, người bà con này gặp mẹ tôi và cho biết các tin tức về cha tôi. Cha tôi là một sĩ quan quân đội cao cấp của chính quyền miền Nam và đã phải bị học tập cải tạo. Thêm một tin nữa, ông đã lập gia đình khác và có được 2 người con gái. Quay về nhà, mẹ tôi cho biết tin và khi kể chuyện, không hiểu vì nghĩ đến việc học tập cải tạo rồi liên tưởng những cảnh tù tội của cha tôi năm xưa lúc bị bắt làm tù binh hay vì cám cảnh thân phận mà mẹ tôi khóc rất nhiều.

Tôi dỗ mẹ đừng khóc nhưng rồi tôi cũng khóc theo mẹ.

Mẹ tôi rất muốn đi vào miền Nam ngay để biết thêm các tin tức về cha tôi nhưng khi đó giao thông hai miền còn khó khăn lắm, vẫn còn hạn chế chỉ ưu tiên cho những cán bộ đi công tác. Đường xuyên Việt nhiều nơi phải sửa chữa và đường sắt nhiều vùng đã mất hẳn từ lâu. Chiến tranh bao năm trời đâu phải một sớm một chiều mà thông đường ngay được. Cơn háo hức vào miền Nam để tìm gặp cha tôi cùng gia đình riêng của ông cũng dần dần nguôi ngoai trong lòng mẹ tôi. Thôi thì cứ chờ vậy. Tôi vẫn tiếp tục đi làm, cũng không hề nghĩ là có ngày mình sẽ đặt chân vào miền Nam và thành phố Sài Gòn, thủ đô của chế độ cũ. Dịp đến đó là nhà máy Hoá Chất Việt Trì tổ chức một cuộc họp lớn có sự tham dự của cán bộ Tổng Cục Hóa Chất từ trung ương về chủ trì. Theo kế hoạch thì nhà nước cần khá đông cán bộ và công nhân viên trong ngành xung phong vào tiếp quản các nhà máy hóa chất ở miền Nam. 

Tin về một xã hội miền Nam đói nghèo, lạc hậu do chính miệng những bộ đội miền Bắc từ chiến trường B (miền Nam) trở về phục viên kể lại trong các tháng trước đã làm con số người xung phong chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ai cũng sợ khổ, sợ phải xa gia đình để đến công tác trong vùng đất đói-nghèo đến nỗi cả bát ăn cơm cũng còn thiếu, không có. Không công nhân viên, cán bộ nào chịu tình nguyện xung phong nên lãnh đạo nhà máy phải họp và xét hoàn cảnh riêng từng người một để chỉ định bắt buộc phải đi. Tên tôi đã được họ chọn nên đành phải chuẩn bị hành lý để theo đoàn vào Nam dù tôi không muốn bởi đi thì tạm thời phải xa mẹ.

Vì đường sắt vẫn chưa sửa xong, chúng tôi 18 người ngồi nằm chung với hành lý trong chiếc xe tải Molotova cũ kỹ của đoàn xe trực chỉ vào miền Nam. Trên xe tuy mệt nhưng có cái thú ngồi ngắm cảnh hai bên dọc đường. Chúng tôi qua nhiều vùng, địa danh trước giờ chỉ nghe tên trên báo trên đài. Hố bom, cầu sập, đường bị bóc từng tảng nhựa, các khu dân cư, chợ... xuất hiện đây đó dọc theo các đoạn đường xe qua. Ngồi nhìn cảnh mới thấy đất nước tôi nghèo khổ, tang thương quá. Ở các vùng xa thủ đô, người dân lam lũ, đói rách, thiếu thốn lộ rõ trên ánh mắt, y phục cùng cảnh vật nơi đang sống. Miền Bắc quê hương xã hội chủ nghĩa còn như vậy thì miền Nam bị Mỹ-Ngụy kềm kẹp chắc chắn phải nghèo, thiếu thốn ghê lắm. Tất cả cũng vì chiến tranh do đế quốc Mỹ reo rắc mà ra... , người đi chung trên xe chép miệng, kết luận.

Xe vừa vào địa giới miền Nam thì chúng tôi đã bấm tay nhau nhìn khung cảnh mới. Một khung cảnh khác lạ với miền Bắc. Nhà cửa, người dân cùng các công trình đô thị như cầu, đường... gần các trục lộ giao thông trông đẹp và văn minh hơn hẳn. Đi rồi nghỉ ngơi rồi đi tiếp cho đến khi đoàn xe đến được khu công nghiệp Biên Hoà. Có quá nhiều nhà máy tại đây. Đoàn 18 người chúng tôi nhìn ngang nhìn dọc từng dãy nhà máy trong khu vực này và tuy không ai nói với ai nhưng đều trầm trồ trước nền công nghiệp miền Nam. Rồi chúng tôi được phân công vào công tác trong một nhà máy có cái tên lạ hoắt là VICACO. Đây là nhà máy sản xuất chất Sút (NaOH) từ muối biển và cả Acid Chlohidric (HCL) nữa, những hóa chất quan trọng. 

VICACO là một nhà máy bề ngoài trông rất nhỏ mà không ngờ bên trong lại lắp đặt các máy móc tối tân, sản xuất được các hóa chất với sản lượng, hàm lượng mà độ tinh khiết rất cao gấp nhiều lần so với cùng công nghệ như vậy tại miền Bắc. Chúng tôi ngạc nhiên và ngầm thán phục trong lòng. Nhìn những công nhân miền Nam đang lao động tại đây rồi sau đó làm việc chung với họ, tôi mới thấy người dân miền Nam khác xa người dân miền Bắc. Kiến thức chuyên môn và xã hội của họ hơn hẳn chúng tôi. Kỹ sư hơn hẳn kỹ sư, chuyên viên hơn hẳn chuyên viên của miền Bắc gửi vào và ngay cả lực lượng công nhân cũng vậy. Thêm vào đó, tình cảm của họ rất thành thực đến nỗi lúc đầu chúng tôi cứ nghĩ do họ... sợ người miền Bắc mà ra. Một sự rụt rè, cẩn thận từ lời ăn tiếng nói tự nhiên nẩy sinh trong đoàn tiếp quản chúng tôi. Ai cũng lo cũng sợ người trong nhà máy VICACO này biết trình độ thực sự của cả đám.

 Sợ họ cười, nỗi lo chính trong lòng vì dầu gì mình cũng thuộc phía người chiến thắng. Tối về nằm nghỉ trong dãy phòng mà được biết trước đây là chỗ dành cho công nhân ngủ qua đêm nếu phải ở lại tăng ca, tôi suy nghĩ xã hội miền Nam không hề lạc hậu về công nghệ về con người... như lời nói trước giờ vẫn được nghe. Nhớ lại trong buổi họp khi chọn người vào tiếp quản, cán bộ ngành Hóa từ trung ương cũng đã khẳng định như vậy khi động viên cán bộ công nhân viên tình nguyện. Những căn phòng nghỉ nào cũng đầy đủ tiện nghi từ các trang bị như bàn ghế, giường ngủ, quạt trần nhà, phòng vệ sinh, đèn chiếu... Ở đây, trong chỗ khép kín của khu công nghệ còn được như vậy thì trong thành phố Sài Gòn chắc chắn phải rất đẹp. Tôi cũng chưa nghĩ mình sẽ ra sao khi tìm gặp được 2 cô em gái tôi, thật khó tưởng tượng.

Rồi một ngày tôi theo đoàn vào làm các thủ tục công tác trong một toà nhà mà Tổng Cục Hoá Chất vừa tiếp quản nay trở thành trụ sở của Công Ty Hóa Chất Cơ Bản miền Nam mới thành lập nằm gần công viên có tên Chi Lăng không xa chợ Bến Thành. Lần đầu tiên trong đời tôi biết đến thang máy khi lên một phòng tuốt trên tầng thượng. Khi làm xong các giấy tờ và thủ tục tạm trú, chúng tôi được phép thoải mái đi thăm phố xá sau lời dặn dò của một thủ trưởng: " Các đồng chí phải bình tĩnh trước mọi tình huống, luôn nhớ chúng ta là kẻ chiến thắng, phải đánh giá chính xác những gì trông thấy ở xã hội miền Nam. Có phồn vinh... nhưng giả tạo ". 

Ngay từ lúc còn ngồi trên xe buýt, nhìn cảnh vật dọc theo đường và khu phố dẫn vào Sài Gòn tôi đã thấy vượt trội nhiều lần so với thủ đô Hà Nội. Một vẻ bề ngoài sáng sủa, văn minh lộ ra từ cách phục sức, sinh hoạt của người dân miền Nam. Giờ đây đi tản bộ trên các con đường trong khu trung tâm thành phố mới thấy bản thân tôi, một người dân miền Bắc quá sức lạc hậu, nghèo nàn... từ bộ cánh (quần áo) trên người cùng vẻ luống cuống như dân quê lần đầu được ra tỉnh. Tôi rõ ràng xa lạ với các tiện nghi đang được người dân trong thành phố này sử dụng. Bên vệ đường và trong các cửa hiệu sang trọng đầy ắp hàng hoá thật đẹp và mới lạ lần đầu chúng tôi mới trông thấy. Ai có tiền thì cứ việc vào mua thoải mái khác hẳn với cảnh chen chúc để chờ được tới lượt mua số hàng ít ỏi như vẫn thường thấy ở các khu phố ngoài miền Bắc. 

Phố xá thì thôi, những tòa nhà to đẹp thấp thoáng sau dòng xe gắn máy chạy hối hả trên đường. Khung cảnh y như ở nơi nào đó nước ngoài, một người trong đoàn chúng tôi nói nhỏ cho nhau cùng nghe. Tôi bối rối ngắm nhìn các cô gái miền Nam... nói chính xác là cô gái Sài Gòn đang dạo bước trên đường. Họ đẹp quá sức, như tiên... từ dáng điệu, mái tóc, y phục mặc trên người và nhất là khuôn mặt của họ lộ rõ vẻ sung túc đài các so với những nữ cán bộ trẻ trong đoàn chúng tôi. Tôi mỉm cười, nghĩ thầm 2 cô em gái tôi trong này chắc cũng vậy. Tôi âm thầm tách ra khỏi đoàn để tự mình đi theo ý muốn. 

Rảo qua nhiều con phố Sài Gòn rồi thấy mỏi chân, tôi lấy can đảm bước vào một hàng nước thật đẹp nằm gần một giao lộ lớn, có tên là Cafe Minirex. Chọn một bàn sát khung cửa kính trong suốt có thể nhìn rõ người đi bên ngoài, tôi quan sát chung quanh của căn phòng. Bàn ghế, các bình hoa, quầy thu ngân, khách cùng vách tường trang trí cảnh một rừng cây thật đẹp... thật không khác một tiệm ở nước ngoài trong phim ảnh. Chợt một người hầu bàn bước đến, gật đầu chào tôi rồi ông ta niềm nở hỏi:

– Thưa ông, ông dùng chi?

Trời ơi! Người hầu bàn này quá lịch sự khi tiếp xúc với khách hàng thật khác hẳn với cung cách của mậu dịch viên trong các tiệm ăn ngoài miền Bắc. Tôi lại nghĩ, hay ông ta biết tôi là cán bộ của chế độ mới qua quần áo mặc trên người nên mới xưng hô như vậy? Tôi gọi nước uống và ngầm để ý xem sao. Nhưng không, bất cứ có khách nào vào quán, người hầu bàn này cũng một cách tiếp đón như vậy. Rất tự nhiên, lịch sự mà không khúm núm hoặc hách dịch.

Một thay đổi đã đến trong lòng tôi mà tôi biết điều này cũng sẽ đến với bất kỳ người nào từ miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa khi đặt chân vào miền Nam ở thời kỳ đó. Sài Gòn hay nói rộng ra là cả miền Nam của chế độ Việt Nam Cộng Hòa không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh người bóc lột người như bao lâu nay mà người dân miền Bắc được (hay bị) báo chí, đài phát thanh Hà Nội cùng cán bộ... mô tả về con người và xã hội của chế độ Ngụy quyền-tay sai đế quốc Mỹ. Đây là mô hình của một xã hội văn minh và người Việt nào được sống trong xã hội này quả thật may mắn hơn sống ở xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa tại miền Bắc. Một xã hội như vậy lại vừa bị người bên phía chúng tôi cướp mất đi sau cuộc chiến. Tiếc thay!

Phạm Thắng Vũ

(Viết để nhớ lại ngày 30-4-1975).

TB: Chỉ những người trí thức mới biết mình bị LỪA, và họ bắt đầu sống trong ân hận hối tiếc cho đến cuối đời. Tôi đã có dịp ngồi nói chuyện với một anh Giáo sư dạy Toán người Hà Nội.

Sau khi anh vào Nam để tiếp quản trường học. Gặp nhóm sinh viên chúng tôi anh cười buồn: "Tôi thật ngỡ ngàng không biết phải dạy các em điều gì nữa?"

...Sau này anh không dạy học mà cùng vợ bán tại một cửa hàng vải nhỏ. Gặp tôi anh chỉ nói "Một lầm lẫn tai hại cả một thế hệ"...

44 năm rồi họ vẫn không chiếm được trái tim của người miền Nam và họ ngược lại mất đi khá nhiều trái tim của người miền Bắc.

(Đào Nguyên Thông)