Ba Làn Sóng Di Cư Từ Việt Nam Đến Úc: Từ Tị Nạn Đến Di Dân Kinh Tế và Sự Khác Biệt Về Tâm Thế
Nguyễn Văn Tuấn
Khi nhìn lại hành trình di cư của người Việt đến Úc
theo dòng chảy lịch sử, có thể nhận thấy rõ ràng ba làn sóng di dân chánh, mỗi
làn sóng mang những đặc trưng riêng biệt về hoàn cảnh, động cơ và tâm thế.
Làn sóng đầu tiên diễn ra ngay sau năm 1975, chủ yếu
là người miền Nam, thường được gọi là "Boat People" hay
người tị nạn chánh trị.
Làn sóng thứ hai khởi đầu từ những năm cuối thập niên
1990 và bùng nổ vào đầu thế kỷ 21, khi hàng loạt du học sinh Việt Nam tìm cách
ở lại Úc sau khi hoàn thành chương trình học, đồng thời bảo lãnh người thân
sang định cư.
Làn sóng thứ ba, từ khoảng năm 2005 trở đi, chủ yếu
bao gồm những cá nhân có điều kiện tài chánh tốt, doanh nhân, nhà đầu tư
và chuyên gia tay nghề cao, thường di cư trực tiếp qua các chương trình đầu tư
hoặc tay nghề.
Dù có sự khác biệt về thời gian và hoàn cảnh, cả ba
làn sóng này đều có thể được xem là những hình thức "tị nạn" theo nghĩa rộng: tị nạn chánh
trị trong làn sóng đầu, tị nạn kinh tế và giáo dục cho làn sóng hai, và tị nạn
môi trường sống cùng cơ hội kinh doanh tốt hơn cho làn sóng ba. Những làn sóng
này không chỉ thay đổi diện mạo cộng đồng người Việt tại Úc mà còn góp phần
quan trọng vào sự phát triển đa dạng của xã hội Úc.
Từ một chiếc thuyền năm 1976 ...
Người Việt có mặt ở Úc từ trước 1975. Trước năm 1975,
số liệu thống kê cho thấy có khoảng 700 người Việt ở Úc. Họ là những du học
sinh đi từ miền Nam. Sau năm 1975, một đợt di dân lớn diễn ra, và chiếc thuyền
đầu tiên từ Việt Nam đến Darwin là tháng 4 năm 1976.
"Thank you Australia". Khoảnh khắc đầy cảm xúc của bé Kim (4 tuổi) cùng người anh, hai anh em là những người tị nạn Việt Nam may mắn được chấp nhận định cư tại Úc. (Ảnh: courtesy of Kim Russell).
Cái mốc lịch sử của sự di dân từ Việt Nam đến Úc xảy
ra vào tháng 4 năm 1976 khi chiếc thuyền từ Kiên Giang mang biển số KG4435 đến
cảng Darwin (sau khi đã bị từ chối cho nhập bến ở Thái Lan, Mã Lai, Tân Gia
Ba). Trên chiếc thuyền nhỏ đó có 5 người xin tị nạn. Đến năm 1981, đã có thêm
56 thuyền cặp bờ biển Úc, và con số người tị nạn đã lên đến 43,400 người. Đến
năm 1991, Cục thống kê Úc ghi nhận 124,800 người Việt định cư ở Úc. Đến năm
1996 xem như làn sóng di dân đầu tiên chấm dứt.
Cuộc di dân thứ hai bắt đầu từ đầu năm 2000, nhưng
thật ra là trước đó vài năm. Sau đợt di dân lần thứ nhất kết thúc, nhiều du học
sinh được nhận vào học tại các trường đại học và trung học ở Úc. Một số đi học
theo học bổng, nhưng đa số theo diện tự túc với sự hỗ trợ của những người di
dân đợt đầu. Số học sinh và sinh viên này tìm cách ở lại Úc, và theo thời gian
trở thành làn sóng di dân thứ hai. Theo thống kê Úc, trong thời gian 1996 đến
2005, có khoảng 23000 ngàn người Việt chọn Úc làm quê hương.
Làn sóng di dân thứ ba có thể ghi nhận từ 2005 trở đi,
và đợt này có nhiều người hơn đợt trước. Đây là những người di dân trực tiếp từ
Việt Nam sang Úc (tức không qua ngả du học). Họ là những quan chức, những doanh
nhân, và những người có khả năng tài chánh có thể đầu tư từ 500,000 đến hàng
triệu đô-la tại Úc. Theo thống kê Úc, chỉ tính từ 2006 đến 2016 đã có hơn
50,000 người từ Việt Nam đi định cư ở Úc. (Trong số này cũng có cả số đoàn tụ
gia đình và du học sinh ở lại, chứ không hẳn chỉ di dân qua tay nghề và doanh
nhân).
Ba làn sóng di dân đã giúp biến cộng đồng người Việt ở
Úc thành một trong những cộng đồng đông dân. Số liệu điều tra dân số Úc năm
2016 cho thấy có gần 300,000 người Việt ở Úc. Với con số này, cộng đồng người
Việt đứng hàng thứ 6 về dân số (sau các cộng đồng người Anh, Tân Tây Lan, Trung
Quốc, Ấn Độ, Phi Luật Tân). Điều thú vị là họ "Nguyễn" đã
đứng vào hạng 13 họ phổ biến nhất ở Úc, vượt qua các họ 'truyền thống' như "Brown",
"Johnson", "Walker" và "Campbell", "Robinson". Dự báo đến năm 2013, nước Úc sẽ
có nhiều người mang họ Nguyễn hơn là họ "Smith"!
Lợi ích cho nước Úc
Nhìn chung, tác động của các làn sóng di dân đến Úc
được đánh giá là tích cực. Khi đề cập đến lợi ích của di dân, giới phân tích Úc
thường đề cập đến 3 lĩnh vực viết tắt bằng 3P: dân số (population), tham gia
lao động (participation), và năng suất lao động (productivity). Úc là nước rộng
về diện tích, nhưng dân số chỉ 24 triệu (hiện nay), và tỉ lệ sinh sản chỉ 1.9
trẻ sơ sinh trên mỗi phụ nữ, tức dưới mức độ tăng trưởng. Do đó, di dân là cần
thiết cho tăng trưởng dân số và qua đó tăng trưởng thị trường kinh tế. Dân số
Úc đang lão hóa nhanh chóng, và do đó Úc cần phải có và duy trì một lực lượng
lao động để cung cấp không chỉ lao động mà còn tài nguyên để chăm sóc tất cả
người Úc.
Riêng đối với các làn sóng di dân từ Việt Nam, mỗi làn
sóng di dân đến Úc đều đem lại những lợi ích cho nước Úc. Những người di cư
trong đợt đầu tiên đã có công rất lớn tạo nên một cộng đồng vững mạnh, làm nền
tảng cho các đợt di cư sau này. Năm người di dân trên chiếc thuyền đến Darwin
năm 1976, chỉ 5 năm sau họ đã có trong tay hơn 45,000 đôla và trở thành chủ
nhân sở hữu tàu đánh cá. Cũng như 5 người đồng hương đó, các đồng hương khác đã
biến những vùng đất bán thành thị ở Sydney và Melbourne thành những đô thị sầm
uất của nước Úc. Tất cả các khu phố tập trung nhiều người Việt là do thế hệ đầu
tiên tạo dựng nên. Thế hệ thứ hai (con cháu của những "Boat People") học hành giỏi giang, họ có mặt
trong các đại học lừng danh, họ còn hiện diện trong các tập đoàn kinh tế hàng
đầu của Úc, và một số khác thì kinh doanh thành đạt. Do đó, không ngạc nhiên
khi các chính phủ liên bang và tiểu bang Úc thường hay nói rằng cộng đồng người
Việt là một "model minority" (thiểu
số gương mẫu).
Sự kiện kỷ niệm 50 năm người Việt định cư tại Úc (1975–2025) do Viet TV
Australia tổ chức long trọng tại Nhà hát Opera House vào ngày 6/11/2025, một
dấu mốc đáng nhớ của cộng đồng. (Ảnh của tác giả)
Hai đợt di cư sau cũng đem đến cho nước Úc nhiều lợi
ích. Về mặt khoa học và kỹ thuật, Úc có thêm một cộng đồng chuyên gia lành nghề
mà họ chẳng tốn tiền đề đào tạo; ngược lại, họ hưởng lợi hàng tỉ USD từ du học
sinh Việt Nam ở Úc. Đứng về mặt kinh tế, Úc có thêm nguồn đầu tư quan trọng, và
qua đó tạo công ăn việc làm cho người dân. Úc còn có qua những người Việt mở
rộng thị trường xuất nhập khẩu từ Việt Nam.
Đợt di cư lần thứ hai và thứ ba còn góp phần làm mới
các khu đô thị cũ của người Việt. Trước đây, các hàng quán của người Việt thuộc
thế hệ đầu tiên thường mang đậm những nét văn hóa từ Việt Nam sang. Nhưng hai
đợt di dân sau này họ đem đến một văn hóa kinh doanh mới, có thể nói là 'văn minh' hơn và 'slick' hơn
so với văn hóa của thế hệ trước. Đôi khi, chúng ta chỉ cần bước vào một quán cà
phê hay quán ăn và nhìn qua cách trang trí lịch lãm cũng như bày biện ngăn nắp
là biết ngay thuộc thế hệ thứ hai. Do đó, tôi nghĩ hai đợt di dân sau này góp
phần "tươi trẻ hóa" cộng đồng người Việt.
Tuy nhiên, hai đợt di dân sau này cũng có khi tạo nên
một ấn tượng không tốt trong cái nhìn của vài người Úc. Người Việt trước đây
nổi tiếng là "cộng đồng gương mẫu",
nhưng nay lại có khi mang tiếng xấu. Những bản tin về "phá vỡ đường dây trồng cần sa" hay
những đợt vây bắt các nhóm buôn bán á phiện đều dính dáng đến người Việt. Giới
cảnh sát có hẳn một danh sách nguyên quán (tất cả đều thuộc miền Bắc Trung Bộ
và miền Bắc) của những thủ phạm!
Những cái nhìn khác về di dân
Tuy di dân thường được các nhà hoạch định chánh sách
và giới kinh tế xem là động lực cho tăng trưởng, không phải mọi người Úc đều
đồng thuận với quan điểm đó. Trong đời sống xã hội, đặc biệt tại các thành phố
lớn như Sydney và Melbourne, đã xuất hiện những lo ngại rằng tốc độ gia tăng
dân số quá nhanh đang tạo ra sức ép đáng kể lên thị trường nhà ở, hạ tầng giao
thông và dịch vụ công.
Giá nhà là ví dụ rõ ràng nhất. Ba mươi năm trước, khi
nhiều người Việt mới đặt chân đến Úc, một căn nhà trung bình ở Sydney còn nằm
trong tầm tay của tầng lớp trung lưu. Ngày nay, giá nhà đã tăng lên mức mà
nhiều gia đình trẻ sinh ra và lớn lên tại Úc khó có thể tiếp cận. Sự leo thang
này là kết quả của nhiều yếu tố đan xen: chánh sách tín dụng nới lỏng, đầu tư
nước ngoài, quy hoạch hạn chế quỹ đất, xu hướng đô thị hóa toàn cầu và cả dòng
người nhập cư. Trong những cuộc tranh luận công khai, di dân thường bị đặt ở vị
trí trung tâm của vấn đề, dù thực tế phức tạp hơn nhiều so với một mối quan hệ
nhân – quả đơn giản.
Cùng với giá nhà, mật độ dân cư gia tăng cũng làm thay
đổi diện mạo đô thị. Những khu vườn rộng, nhà đơn lập đặc trưng của "giấc mơ Úc" dần được thay thế bằng các
khu chung cư cao tầng và nhà phố san sát. Với những cư dân lâu năm, sự thay đổi
đó không chỉ là thay đổi vật chất, mà còn là thay đổi về cảm nhận lối sống. Họ
lo ngại rằng phẩm chất sống – vốn từng gắn với không gian rộng rãi, yên tĩnh và
riêng tư – đang bị thu hẹp trong nhịp sống đô thị hóa nhanh chóng.
Một nghịch lý khác của chính sách di dân nằm ở
chỗ "lãng phí nhân tài". Úc đặt ra những tiêu
chuẩn khắt khe đối với người nhập cư: trình độ chuyên môn cao, khả năng tiếng
Anh, kinh nghiệm làm việc, năng lực tài chánh. Thế nhưng khi đặt chân đến đây,
nhiều kỹ sư, bác sĩ, luật sư hay giáo viên lại phải bắt đầu từ những công việc
không tương xứng với năng lực, do bằng cấp và kinh nghiệm từ nước ngoài không
được công nhận đầy đủ. Không ít người phải mất nhiều năm học lại, thi lại hoặc
chấp nhận chuyển ngành. Ngay cả khi quay lại được nghề cũ, con đường thăng tiến
vẫn thường chậm và giới hạn. Điều này không chỉ là tổn thất cá nhân, mà còn là
sự lãng phí nguồn nhân lực mà chính nước Úc đã chủ động thu hút.
Tuy nhiên, nhìn ở chiều ngược lại, sức hút của Úc đối
với người Việt Nam và nhiều cộng đồng khác không phải là điều ngẫu nhiên.
Khoảng cách địa lý tương đối gần, môi trường chính trị ổn định, hệ thống pháp
luật minh bạch và mức độ an toàn cao tạo nên một cảm giác yên tâm lâu dài. Chất
lượng giáo dục – từ trung học đến đại học – thuộc hàng đầu thế giới. Hệ thống y
tế và an sinh xã hội tuy không hoàn hảo, nhưng vẫn bảo đảm một mạng lưới hỗ trợ
đáng kể cho người dân. Đối với nhiều gia đình, đặc biệt là những người đã trải
qua bất ổn chánh trị hay kinh tế tại quê nhà, những yếu tố ấy có giá trị rất
lớn.
Úc, xét cho cùng, là một quốc gia được hình thành và
phát triển nhờ các làn sóng di dân. Từ thế kỷ 19 đến nay, những dòng người từ
Âu châu, Trung Đông và Á châu đã cùng nhau tạo nên một xã hội đa văn hóa. Trong
bức tranh đó, cộng đồng người Việt tuy không phải là cộng đồng đông nhứt, nhưng
đã để lại dấu ấn rõ rệt. Tiếng Việt trở thành một trong những ngôn ngữ được
giảng dạy phổ biến tại các trường trung học. Ẩm thực Việt Nam – từ phở, bánh mì
đến cơm tấm – đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống ẩm thực đô thị
Úc. Quan trọng hơn cả là sự hiện diện của người Việt trong các lãnh vực học
thuật, kinh doanh và chuyên môn. Thế hệ "Boat People" đầu
tiên, xuất phát từ hoàn cảnh khó khăn nhất, đã đặt nền móng cho một cộng đồng
ổn định và được xã hội ghi nhận. Không phải ngẫu nhiên mà ngay cả những người
có quan điểm dè dặt với di dân nói chung cũng thừa nhận sự thành công của cộng
đồng người Việt. Các thế hệ sau, với điều kiện thuận lợi hơn về giáo dục và tài
chính, vẫn đang trong tiến trình hội nhập và khẳng định vị trí của mình.
Vietnamese Museum Australia – Bảo tàng Người Tị nạn Việt Nam đầu tiên tại Úc, được Chánh phủ Úc cấp đất và tài trợ (một phần) để xây dựng, nhằm tri ân và lưu giữ hành trình đầy gian khổ cũng như những đóng góp của cộng đồng người Việt tị nạn tại Úc.
Do đó, tranh luận về di dân tại Úc không phải là câu
chuyện trắng – đen. Nó là sự giằng co giữa nhu cầu tăng trưởng và áp lực hạ
tầng, giữa lý tưởng đa văn hóa và nỗi lo bảo vệ lối sống truyền thống, giữa
chính sách thu hút nhân tài và thực tế hội nhập phức tạp. Trong bối cảnh ấy,
cộng đồng người Việt – như nhiều cộng đồng khác – vừa là một phần của thách
thức, vừa là một phần của giải pháp. Và chính sự tham gia tích cực, có trách
nhiệm vào đời sống xã hội Úc sẽ quyết định cách cộng đồng người Việt được nhìn
nhận trong tương lai.
Ba làn sóng di dân từ Việt Nam sang Úc thực chất được
định hình bởi hai tâm thế khác biệt. Làn sóng đầu tiên là tâm thế của người tị
nạn. Họ ra đi trong hoàn cảnh cùng quẫn, phía sau là biến động lịch sử, phía
trước là biển cả bất định. Phần lớn không mang theo tài sản, địa vị hay cả một
quốc tịch được bảo đảm; điều họ mang theo nhiều nhất là ký ức đứt gãy và những
chấn thương khó gọi thành tên. Với họ, Úc trước hết là nơi trú ẩn – một vùng
đất tự do để được sống an toàn và làm lại từ đầu.
Hai làn sóng sau thuộc về tâm thế của người di dân. Họ
ra đi trong điều kiện chủ động hơn: có quốc tịch, có lựa chọn, có nguồn lực tài
chánh và vốn liếng học vấn. Nếu người tị nạn tìm một nơi để tồn tại, thì người
di dân tìm một nơi để phát triển; nếu thế hệ trước bước đi trong tâm trạng mất
mát, thì thế hệ sau bước đi với kỳ vọng mở rộng cơ hội.
Chính sự khác biệt căn bản đó — giữa ra đi vì bắt buộc
và ra đi vì chọn lựa — cùng với những khác biệt về ký ức lịch sử và quan điểm
chánh trị, đã khiến cộng đồng người Việt tại Úc mang trong mình nhiều tầng bản
sắc. Đó là một cộng đồng phong phú và năng động, nhưng cũng chưa hẳn là một
khối đồng nhứt. Sự đa dạng ấy vừa là thách thức cho sự đoàn kết, vừa là dấu ấn
đặc thù của một cộng đồng được hình thành từ những hành trình rất khác nhau.
Bên cạnh những khác biệt về thời điểm và điều kiện ra
đi, một đường ranh khác cũng âm thầm tồn tại trong cộng đồng: sự chia rẽ mang
tính thế hệ giữa những người tị nạn "Boat People" và thế hệ sinh ra,
hoặc lớn lên, tại Úc. Đối với thế hệ đầu tiên, ký ức về chiến tranh, vượt biên,
trại tị nạn và những mất mát là một phần không thể tách rời của căn cước tính.
Quê hương trong họ không chỉ là một địa danh, mà là một vết thương, một lý
tưởng, thậm chí là một lập trường chánh trị. Trong khi đó, thế hệ sanh ra ở Úc
tiếp cận Việt Nam qua câu chuyện gia đình, qua những chuyến về thăm, hoặc qua
văn hóa – ẩm thực – ngôn ngữ, chứ không qua trải nghiệm sanh tử. Họ mang căn
tính "Úc gốc Việt" hơn là "người Việt", và vì vậy không nhất thiết chia
sẻ cùng một cường độ cảm xúc hay cùng một cách nhìn về lịch sử. Sự khác biệt đó
đôi khi tạo ra hiểu lầm: thế hệ trước có thể cảm thấy con cháu "quên nguồn", còn thế hệ sau lại thấy mình bị
buộc phải mang một ký ức không thuộc về họ. Tuy nhiên, nếu được đối thoại trong
tinh thần cảm thông, khoảng cách thế hệ này không phải là rạn nứt, mà có thể
trở thành nhịp cầu, nơi ký ức được kể lại, được hiểu, và được tiếp nối theo một
cách nhẹ nhàng hơn, phù hợp với bối cảnh mới của cộng đồng người Việt tại Úc.
Nhìn lại ...
Nhìn lại nửa thế kỷ hiện diện của người Việt tại Úc,
có thể thấy đây không chỉ là câu chuyện của những con số hay những đợt sóng di
dân kế tiếp nhau, mà là câu chuyện của thích nghi, tái tạo và chuyển hóa. Từ 5
người trên chiếc ghe nhỏ cập bến Darwin năm 1976 đến một cộng đồng hàng trăm
ngàn người hôm nay, hành trình đó phản ảnh sức sống bền bỉ và khả năng vươn lên
mạnh mẽ của người Việt trong một môi trường hoàn toàn mới.
Ba làn sóng di dân, với ba tâm thế khác nhau, đã tạo
nên một cộng đồng đa dạng về kinh nghiệm sống, quan điểm và mức độ hội nhập. Sự
khác biệt đó đôi khi tạo ra khoảng cách, thậm chí va chạm. Nhưng cũng chính sự
đa dạng đó lại là nguồn lực quý giá, nếu được nhìn nhận như một vốn liếng chung
thay vì một ranh giới phân chia. Một cộng đồng trưởng thành không phải là một
cộng đồng đồng nhất, mà là một cộng đồng biết chấp nhận khác biệt và tìm được
mẫu số chung trong khác biệt đó.
Trong bối cảnh nước Úc tiếp tục thay đổi vì toàn cầu
hóa và di dân, cộng đồng người Việt cũng đứng trước những câu hỏi mới: làm sao
để duy trì bản sắc văn hóa mà vẫn hội nhập sâu rộng; làm sao để thế hệ sau hiểu
được lịch sử của thế hệ trước; và làm sao để những thành công cá nhân chuyển
hóa thành sức mạnh tập thể. Những thách thức đó không hề nhỏ, nhưng kinh nghiệm
của gần 50 năm qua cho thấy người Việt tại Úc có đủ nội lực để vượt qua.
Cuối cùng, hành trình di dân không chỉ là hành trình
rời bỏ một quê hương, mà còn là hành trình kiến tạo một quê hương mới. Nếu làn
sóng đầu tiên đặt nền móng, thì những làn sóng sau đang xây thêm tầng cao cho
ngôi nhà chung. Và, trong tiến trình đó, cộng đồng người Việt không chỉ tìm
thấy chỗ đứng cho mình trên đất Úc, mà còn góp phần định hình diện mạo của nước
Úc trong thế kỷ 21 — một nước Úc đa văn hóa, năng động và rộng mở.
Nguyễn Văn Tuấn