Thursday, 26 February 2026

Ba làn sóng di cư

 

Ba Làn Sóng Di Cư Từ Việt Nam Đến Úc: Từ Tị Nạn Đến Di Dân Kinh Tế và Sự Khác Biệt Về Tâm Thế

Nguyễn Văn Tuấn

 Không khí rộn ràng tại hội chợ Tết ở Bankstown (Úc) vào đầu năm 2026. Bankstown là một trong những địa phương có đông đảo bà con Việt Nam sinh sống và hội tụ văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc.

Khi nhìn lại hành trình di cư của người Việt đến Úc theo dòng chảy lịch sử, có thể nhận thấy rõ ràng ba làn sóng di dân chánh, mỗi làn sóng mang những đặc trưng riêng biệt về hoàn cảnh, động cơ và tâm thế.

Làn sóng đầu tiên diễn ra ngay sau năm 1975, chủ yếu là người miền Nam, thường được gọi là "Boat People" hay người tị nạn chánh trị.

Làn sóng thứ hai khởi đầu từ những năm cuối thập niên 1990 và bùng nổ vào đầu thế kỷ 21, khi hàng loạt du học sinh Việt Nam tìm cách ở lại Úc sau khi hoàn thành chương trình học, đồng thời bảo lãnh người thân sang định cư.

Làn sóng thứ ba, từ khoảng năm 2005 trở đi, chủ yếu bao gồm những cá nhân có điều kiện tài chánh  tốt, doanh nhân, nhà đầu tư và chuyên gia tay nghề cao, thường di cư trực tiếp qua các chương trình đầu tư hoặc tay nghề.

Dù có sự khác biệt về thời gian và hoàn cảnh, cả ba làn sóng này đều có thể được xem là những hình thức "tị nạn" theo nghĩa rộng: tị nạn chánh trị trong làn sóng đầu, tị nạn kinh tế và giáo dục cho làn sóng hai, và tị nạn môi trường sống cùng cơ hội kinh doanh tốt hơn cho làn sóng ba. Những làn sóng này không chỉ thay đổi diện mạo cộng đồng người Việt tại Úc mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển đa dạng của xã hội Úc.

Từ một chiếc thuyền năm 1976 ...

Người Việt có mặt ở Úc từ trước 1975. Trước năm 1975, số liệu thống kê cho thấy có khoảng 700 người Việt ở Úc. Họ là những du học sinh đi từ miền Nam. Sau năm 1975, một đợt di dân lớn diễn ra, và chiếc thuyền đầu tiên từ Việt Nam đến Darwin là tháng 4 năm 1976.

"Thank you Australia". Khoảnh khắc đầy cảm xúc của bé Kim (4 tuổi) cùng người anh, hai anh em là những người tị nạn Việt Nam may mắn được chấp nhận định cư tại Úc. (Ảnh: courtesy of Kim Russell).

Cái mốc lịch sử của sự di dân từ Việt Nam đến Úc xảy ra vào tháng 4 năm 1976 khi chiếc thuyền từ Kiên Giang mang biển số KG4435 đến cảng Darwin (sau khi đã bị từ chối cho nhập bến ở Thái Lan, Mã Lai, Tân Gia Ba). Trên chiếc thuyền nhỏ đó có 5 người xin tị nạn. Đến năm 1981, đã có thêm 56 thuyền cặp bờ biển Úc, và con số người tị nạn đã lên đến 43,400 người. Đến năm 1991, Cục thống kê Úc ghi nhận 124,800 người Việt định cư ở Úc. Đến năm 1996 xem như làn sóng di dân đầu tiên chấm dứt.

Cuộc di dân thứ hai bắt đầu từ đầu năm 2000, nhưng thật ra là trước đó vài năm. Sau đợt di dân lần thứ nhất kết thúc, nhiều du học sinh được nhận vào học tại các trường đại học và trung học ở Úc. Một số đi học theo học bổng, nhưng đa số theo diện tự túc với sự hỗ trợ của những người di dân đợt đầu. Số học sinh và sinh viên này tìm cách ở lại Úc, và theo thời gian trở thành làn sóng di dân thứ hai. Theo thống kê Úc, trong thời gian 1996 đến 2005, có khoảng 23000 ngàn người Việt chọn Úc làm quê hương.

Làn sóng di dân thứ ba có thể ghi nhận từ 2005 trở đi, và đợt này có nhiều người hơn đợt trước. Đây là những người di dân trực tiếp từ Việt Nam sang Úc (tức không qua ngả du học). Họ là những quan chức, những doanh nhân, và những người có khả năng tài chánh có thể đầu tư từ 500,000 đến hàng triệu đô-la tại Úc. Theo thống kê Úc, chỉ tính từ 2006 đến 2016 đã có hơn 50,000 người từ Việt Nam đi định cư ở Úc. (Trong số này cũng có cả số đoàn tụ gia đình và du học sinh ở lại, chứ không hẳn chỉ di dân qua tay nghề và doanh nhân).

Ba làn sóng di dân đã giúp biến cộng đồng người Việt ở Úc thành một trong những cộng đồng đông dân. Số liệu điều tra dân số Úc năm 2016 cho thấy có gần 300,000 người Việt ở Úc. Với con số này, cộng đồng người Việt đứng hàng thứ 6 về dân số (sau các cộng đồng người Anh, Tân Tây Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Phi Luật Tân). Điều thú vị là họ "Nguyễn" đã đứng vào hạng 13 họ phổ biến nhất ở Úc, vượt qua các họ 'truyền thống' như "Brown", "Johnson", "Walker"  "Campbell", "Robinson". Dự báo đến năm 2013, nước Úc sẽ có nhiều người mang họ Nguyễn hơn là họ "Smith"!

Lợi ích cho nước Úc

Nhìn chung, tác động của các làn sóng di dân đến Úc được đánh giá là tích cực. Khi đề cập đến lợi ích của di dân, giới phân tích Úc thường đề cập đến 3 lĩnh vực viết tắt bằng 3P: dân số (population), tham gia lao động (participation), và năng suất lao động (productivity). Úc là nước rộng về diện tích, nhưng dân số chỉ 24 triệu (hiện nay), và tỉ lệ sinh sản chỉ 1.9 trẻ sơ sinh trên mỗi phụ nữ, tức dưới mức độ tăng trưởng. Do đó, di dân là cần thiết cho tăng trưởng dân số và qua đó tăng trưởng thị trường kinh tế. Dân số Úc đang lão hóa nhanh chóng, và do đó Úc cần phải có và duy trì một lực lượng lao động để cung cấp không chỉ lao động mà còn tài nguyên để chăm sóc tất cả người Úc.

Riêng đối với các làn sóng di dân từ Việt Nam, mỗi làn sóng di dân đến Úc đều đem lại những lợi ích cho nước Úc. Những người di cư trong đợt đầu tiên đã có công rất lớn tạo nên một cộng đồng vững mạnh, làm nền tảng cho các đợt di cư sau này. Năm người di dân trên chiếc thuyền đến Darwin năm 1976, chỉ 5 năm sau họ đã có trong tay hơn 45,000 đôla và trở thành chủ nhân sở hữu tàu đánh cá. Cũng như 5 người đồng hương đó, các đồng hương khác đã biến những vùng đất bán thành thị ở Sydney và Melbourne thành những đô thị sầm uất của nước Úc. Tất cả các khu phố tập trung nhiều người Việt là do thế hệ đầu tiên tạo dựng nên. Thế hệ thứ hai (con cháu của những "Boat People") học hành giỏi giang, họ có mặt trong các đại học lừng danh, họ còn hiện diện trong các tập đoàn kinh tế hàng đầu của Úc, và một số khác thì kinh doanh thành đạt. Do đó, không ngạc nhiên khi các chính phủ liên bang và tiểu bang Úc thường hay nói rằng cộng đồng người Việt là một "model minority" (thiểu số gương mẫu).

 

Sự kiện kỷ niệm 50 năm người Việt định cư tại Úc (1975–2025) do Viet TV Australia tổ chức long trọng tại Nhà hát Opera House vào ngày 6/11/2025, một dấu mốc đáng nhớ của cộng đồng. (Ảnh của tác giả)

Hai đợt di cư sau cũng đem đến cho nước Úc nhiều lợi ích. Về mặt khoa học và kỹ thuật, Úc có thêm một cộng đồng chuyên gia lành nghề mà họ chẳng tốn tiền đề đào tạo; ngược lại, họ hưởng lợi hàng tỉ USD từ du học sinh Việt Nam ở Úc. Đứng về mặt kinh tế, Úc có thêm nguồn đầu tư quan trọng, và qua đó tạo công ăn việc làm cho người dân. Úc còn có qua những người Việt mở rộng thị trường xuất nhập khẩu từ Việt Nam.

Đợt di cư lần thứ hai và thứ ba còn góp phần làm mới các khu đô thị cũ của người Việt. Trước đây, các hàng quán của người Việt thuộc thế hệ đầu tiên thường mang đậm những nét văn hóa từ Việt Nam sang. Nhưng hai đợt di dân sau này họ đem đến một văn hóa kinh doanh mới, có thể nói là 'văn minh' hơn và 'slick' hơn so với văn hóa của thế hệ trước. Đôi khi, chúng ta chỉ cần bước vào một quán cà phê hay quán ăn và nhìn qua cách trang trí lịch lãm cũng như bày biện ngăn nắp là biết ngay thuộc thế hệ thứ hai. Do đó, tôi nghĩ hai đợt di dân sau này góp phần "tươi trẻ hóa" cộng đồng người Việt.

Tuy nhiên, hai đợt di dân sau này cũng có khi tạo nên một ấn tượng không tốt trong cái nhìn của vài người Úc. Người Việt trước đây nổi tiếng là "cộng đồng gương mẫu", nhưng nay lại có khi mang tiếng xấu. Những bản tin về "phá vỡ đường dây trồng cần sa" hay những đợt vây bắt các nhóm buôn bán á phiện đều dính dáng đến người Việt. Giới cảnh sát có hẳn một danh sách nguyên quán (tất cả đều thuộc miền Bắc Trung Bộ và miền Bắc) của những thủ phạm!

Những cái nhìn khác về di dân

Tuy di dân thường được các nhà hoạch định chánh sách và giới kinh tế xem là động lực cho tăng trưởng, không phải mọi người Úc đều đồng thuận với quan điểm đó. Trong đời sống xã hội, đặc biệt tại các thành phố lớn như Sydney và Melbourne, đã xuất hiện những lo ngại rằng tốc độ gia tăng dân số quá nhanh đang tạo ra sức ép đáng kể lên thị trường nhà ở, hạ tầng giao thông và dịch vụ công.

Giá nhà là ví dụ rõ ràng nhất. Ba mươi năm trước, khi nhiều người Việt mới đặt chân đến Úc, một căn nhà trung bình ở Sydney còn nằm trong tầm tay của tầng lớp trung lưu. Ngày nay, giá nhà đã tăng lên mức mà nhiều gia đình trẻ sinh ra và lớn lên tại Úc khó có thể tiếp cận. Sự leo thang này là kết quả của nhiều yếu tố đan xen: chánh sách tín dụng nới lỏng, đầu tư nước ngoài, quy hoạch hạn chế quỹ đất, xu hướng đô thị hóa toàn cầu và cả dòng người nhập cư. Trong những cuộc tranh luận công khai, di dân thường bị đặt ở vị trí trung tâm của vấn đề, dù thực tế phức tạp hơn nhiều so với một mối quan hệ nhân – quả đơn giản.

Cùng với giá nhà, mật độ dân cư gia tăng cũng làm thay đổi diện mạo đô thị. Những khu vườn rộng, nhà đơn lập đặc trưng của "giấc mơ Úc" dần được thay thế bằng các khu chung cư cao tầng và nhà phố san sát. Với những cư dân lâu năm, sự thay đổi đó không chỉ là thay đổi vật chất, mà còn là thay đổi về cảm nhận lối sống. Họ lo ngại rằng phẩm chất sống – vốn từng gắn với không gian rộng rãi, yên tĩnh và riêng tư – đang bị thu hẹp trong nhịp sống đô thị hóa nhanh chóng.

Một nghịch lý khác của chính sách di dân nằm ở chỗ "lãng phí nhân tài". Úc đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe đối với người nhập cư: trình độ chuyên môn cao, khả năng tiếng Anh, kinh nghiệm làm việc, năng lực tài chánh. Thế nhưng khi đặt chân đến đây, nhiều kỹ sư, bác sĩ, luật sư hay giáo viên lại phải bắt đầu từ những công việc không tương xứng với năng lực, do bằng cấp và kinh nghiệm từ nước ngoài không được công nhận đầy đủ. Không ít người phải mất nhiều năm học lại, thi lại hoặc chấp nhận chuyển ngành. Ngay cả khi quay lại được nghề cũ, con đường thăng tiến vẫn thường chậm và giới hạn. Điều này không chỉ là tổn thất cá nhân, mà còn là sự lãng phí nguồn nhân lực mà chính nước Úc đã chủ động thu hút.

Tuy nhiên, nhìn ở chiều ngược lại, sức hút của Úc đối với người Việt Nam và nhiều cộng đồng khác không phải là điều ngẫu nhiên. Khoảng cách địa lý tương đối gần, môi trường chính trị ổn định, hệ thống pháp luật minh bạch và mức độ an toàn cao tạo nên một cảm giác yên tâm lâu dài. Chất lượng giáo dục – từ trung học đến đại học – thuộc hàng đầu thế giới. Hệ thống y tế và an sinh xã hội tuy không hoàn hảo, nhưng vẫn bảo đảm một mạng lưới hỗ trợ đáng kể cho người dân. Đối với nhiều gia đình, đặc biệt là những người đã trải qua bất ổn chánh trị hay kinh tế tại quê nhà, những yếu tố ấy có giá trị rất lớn.

Úc, xét cho cùng, là một quốc gia được hình thành và phát triển nhờ các làn sóng di dân. Từ thế kỷ 19 đến nay, những dòng người từ Âu châu, Trung Đông và Á châu đã cùng nhau tạo nên một xã hội đa văn hóa. Trong bức tranh đó, cộng đồng người Việt tuy không phải là cộng đồng đông nhứt, nhưng đã để lại dấu ấn rõ rệt. Tiếng Việt trở thành một trong những ngôn ngữ được giảng dạy phổ biến tại các trường trung học. Ẩm thực Việt Nam – từ phở, bánh mì đến cơm tấm – đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống ẩm thực đô thị Úc. Quan trọng hơn cả là sự hiện diện của người Việt trong các lãnh vực học thuật, kinh doanh và chuyên môn. Thế hệ "Boat People" đầu tiên, xuất phát từ hoàn cảnh khó khăn nhất, đã đặt nền móng cho một cộng đồng ổn định và được xã hội ghi nhận. Không phải ngẫu nhiên mà ngay cả những người có quan điểm dè dặt với di dân nói chung cũng thừa nhận sự thành công của cộng đồng người Việt. Các thế hệ sau, với điều kiện thuận lợi hơn về giáo dục và tài chính, vẫn đang trong tiến trình hội nhập và khẳng định vị trí của mình.

Vietnamese Museum Australia – Bảo tàng Người Tị nạn Việt Nam đầu tiên tại Úc, được Chánh phủ Úc cấp đất và tài trợ (một phần) để xây dựng, nhằm tri ân và lưu giữ hành trình đầy gian khổ  cũng như những đóng góp của cộng đồng người Việt tị nạn tại Úc.

Do đó, tranh luận về di dân tại Úc không phải là câu chuyện trắng – đen. Nó là sự giằng co giữa nhu cầu tăng trưởng và áp lực hạ tầng, giữa lý tưởng đa văn hóa và nỗi lo bảo vệ lối sống truyền thống, giữa chính sách thu hút nhân tài và thực tế hội nhập phức tạp. Trong bối cảnh ấy, cộng đồng người Việt – như nhiều cộng đồng khác – vừa là một phần của thách thức, vừa là một phần của giải pháp. Và chính sự tham gia tích cực, có trách nhiệm vào đời sống xã hội Úc sẽ quyết định cách cộng đồng người Việt được nhìn nhận trong tương lai.

Ba làn sóng di dân từ Việt Nam sang Úc thực chất được định hình bởi hai tâm thế khác biệt. Làn sóng đầu tiên là tâm thế của người tị nạn. Họ ra đi trong hoàn cảnh cùng quẫn, phía sau là biến động lịch sử, phía trước là biển cả bất định. Phần lớn không mang theo tài sản, địa vị hay cả một quốc tịch được bảo đảm; điều họ mang theo nhiều nhất là ký ức đứt gãy và những chấn thương khó gọi thành tên. Với họ, Úc trước hết là nơi trú ẩn – một vùng đất tự do để được sống an toàn và làm lại từ đầu.

Hai làn sóng sau thuộc về tâm thế của người di dân. Họ ra đi trong điều kiện chủ động hơn: có quốc tịch, có lựa chọn, có nguồn lực tài chánh và vốn liếng học vấn. Nếu người tị nạn tìm một nơi để tồn tại, thì người di dân tìm một nơi để phát triển; nếu thế hệ trước bước đi trong tâm trạng mất mát, thì thế hệ sau bước đi với kỳ vọng mở rộng cơ hội.

Chính sự khác biệt căn bản đó — giữa ra đi vì bắt buộc và ra đi vì chọn lựa — cùng với những khác biệt về ký ức lịch sử và quan điểm chánh trị, đã khiến cộng đồng người Việt tại Úc mang trong mình nhiều tầng bản sắc. Đó là một cộng đồng phong phú và năng động, nhưng cũng chưa hẳn là một khối đồng nhứt. Sự đa dạng ấy vừa là thách thức cho sự đoàn kết, vừa là dấu ấn đặc thù của một cộng đồng được hình thành từ những hành trình rất khác nhau.

Bên cạnh những khác biệt về thời điểm và điều kiện ra đi, một đường ranh khác cũng âm thầm tồn tại trong cộng đồng: sự chia rẽ mang tính thế hệ giữa những người tị nạn "Boat People" và thế hệ sinh ra, hoặc lớn lên, tại Úc. Đối với thế hệ đầu tiên, ký ức về chiến tranh, vượt biên, trại tị nạn và những mất mát là một phần không thể tách rời của căn cước tính. Quê hương trong họ không chỉ là một địa danh, mà là một vết thương, một lý tưởng, thậm chí là một lập trường chánh trị. Trong khi đó, thế hệ sanh ra ở Úc tiếp cận Việt Nam qua câu chuyện gia đình, qua những chuyến về thăm, hoặc qua văn hóa – ẩm thực – ngôn ngữ, chứ không qua trải nghiệm sanh tử. Họ mang căn tính "Úc gốc Việt" hơn là "người Việt", và vì vậy không nhất thiết chia sẻ cùng một cường độ cảm xúc hay cùng một cách nhìn về lịch sử. Sự khác biệt đó đôi khi tạo ra hiểu lầm: thế hệ trước có thể cảm thấy con cháu "quên nguồn", còn thế hệ sau lại thấy mình bị buộc phải mang một ký ức không thuộc về họ. Tuy nhiên, nếu được đối thoại trong tinh thần cảm thông, khoảng cách thế hệ này không phải là rạn nứt, mà có thể trở thành nhịp cầu, nơi ký ức được kể lại, được hiểu, và được tiếp nối theo một cách nhẹ nhàng hơn, phù hợp với bối cảnh mới của cộng đồng người Việt tại Úc.

Nhìn lại ...

Nhìn lại nửa thế kỷ hiện diện của người Việt tại Úc, có thể thấy đây không chỉ là câu chuyện của những con số hay những đợt sóng di dân kế tiếp nhau, mà là câu chuyện của thích nghi, tái tạo và chuyển hóa. Từ 5 người trên chiếc ghe nhỏ cập bến Darwin năm 1976 đến một cộng đồng hàng trăm ngàn người hôm nay, hành trình đó phản ảnh sức sống bền bỉ và khả năng vươn lên mạnh mẽ của người Việt trong một môi trường hoàn toàn mới.

Ba làn sóng di dân, với ba tâm thế khác nhau, đã tạo nên một cộng đồng đa dạng về kinh nghiệm sống, quan điểm và mức độ hội nhập. Sự khác biệt đó đôi khi tạo ra khoảng cách, thậm chí va chạm. Nhưng cũng chính sự đa dạng đó lại là nguồn lực quý giá, nếu được nhìn nhận như một vốn liếng chung thay vì một ranh giới phân chia. Một cộng đồng trưởng thành không phải là một cộng đồng đồng nhất, mà là một cộng đồng biết chấp nhận khác biệt và tìm được mẫu số chung trong khác biệt đó.

Trong bối cảnh nước Úc tiếp tục thay đổi vì toàn cầu hóa và di dân, cộng đồng người Việt cũng đứng trước những câu hỏi mới: làm sao để duy trì bản sắc văn hóa mà vẫn hội nhập sâu rộng; làm sao để thế hệ sau hiểu được lịch sử của thế hệ trước; và làm sao để những thành công cá nhân chuyển hóa thành sức mạnh tập thể. Những thách thức đó không hề nhỏ, nhưng kinh nghiệm của gần 50 năm qua cho thấy người Việt tại Úc có đủ nội lực để vượt qua.

Cuối cùng, hành trình di dân không chỉ là hành trình rời bỏ một quê hương, mà còn là hành trình kiến tạo một quê hương mới. Nếu làn sóng đầu tiên đặt nền móng, thì những làn sóng sau đang xây thêm tầng cao cho ngôi nhà chung. Và, trong tiến trình đó, cộng đồng người Việt không chỉ tìm thấy chỗ đứng cho mình trên đất Úc, mà còn góp phần định hình diện mạo của nước Úc trong thế kỷ 21 — một nước Úc đa văn hóa, năng động và rộng mở.

Nguyễn Văn Tuấn


Wednesday, 25 February 2026

Cuộc sống không tưởng của người Greenland

 

Nơi đây, người dân có cuộc sống không giống với phần còn lại của thế giới.

Tại Greenland, hòn đảo rộng lớn hơn hai triệu cây số vuông nhưng chỉ có 56.000 dân, cuộc sống không chỉ là sự tồn tại giữa băng giá mà là một bản hòa ca kỳ lạ giữa công nghệ hiện đại và những bản năng sinh tồn cổ xưa. Đến với vùng đất này, những khái niệm quen thuộc về giao thông, ẩm thực hay nhịp sống đô thị của chúng ta sẽ hoàn toàn bị đảo lộn, nhường chỗ cho một lối sống mà người bản địa gọi là "Kalaallit" – sự kiên cường của con người trước sự khắc nghiệt của phương Bắc.

Thế giới không có những con đường nối liền

Điều đầu tiên khiến bất kỳ ai đặt chân đến Greenland cũng phải ngỡ ngàng là sự vắng bóng hoàn toàn của mạng lưới đường bộ liên tỉnh. Tại đây, bạn không thể lái xe từ thị trấn này sang thị trấn khác. Mỗi cộng đồng dân cư giống như một "ốc đảo" tách biệt giữa đại dương băng.

Nếu muốn đi thăm người thân ở thành phố bên cạnh, người dân chỉ có hai lựa chọn: hoặc là bay bằng trực thăng, phi cơ nhỏ, hoặc là lênh đênh trên những con tàu vượt biển. Vào mùa đông, khi mặt biển đóng băng dày đặc, xe trượt tuyết và những đàn chó kéo lại trở thành "huyết mạch" duy nhất kết nối những tâm hồn cô độc giữa tuyết trắng. Chính sự cách trở này đã tạo nên một cộng đồng gắn kết cực kỳ chặt chẽ, nơi mỗi chuyến đi đều là một hành trình mạo hiểm và sự gặp gỡ luôn mang ý nghĩa thiêng liêng.

Những ngôi nhà bảy sắc cầu vồng và mật mã của quá khứ

Khi nhìn từ trên cao, các thị trấn của Greenland hiện lên rực rỡ như những bộ đồ chơi Lego khổng lồ giữa nền tuyết trắng xóa. Những ngôi nhà gỗ với đủ tông màu đỏ, xanh dương, vàng, xanh lá không chỉ để làm đẹp hay chống lại sự đơn điệu của mùa đông dài.

Thực tế, đây là một di sản từ thời kỳ thuộc địa, nơi màu sắc của ngôi nhà đóng vai trò như một bảng chỉ dẫn chức năng: nhà màu đỏ là tiệm buôn hoặc nhà của bác sĩ, màu vàng dành cho bệnh viện, màu xanh dương dành cho nhà máy cá và màu đen dành cho đồn cảnh sát. Dù ngày nay người dân có thể tự do chọn màu sắc theo sở thích, nhưng thói quen tô điểm rực rỡ cho không gian sống vẫn được duy trì như một cách để sưởi ấm tâm hồn và khẳng định sự hiện diện của con người giữa đại lục băng giá.

Ẩm thực từ lòng đại dương và những bài học về sự tiết kiệm

Trong một môi trường mà nông nghiệp gần như là con số không, người dân Greenland đã học cách tận dụng tối đa những gì thiên nhiên ban tặng. Một bữa tối "thượng hạng" của người bản địa không phải là bò steak hay gà rán, mà là món Suaasat – súp thịt hải cẩu truyền thống, hay Mattak – da cá voi sống giàu vitamin C. Thậm chí, món Kiviaq kỳ lạ (chim lên men trong da hải cẩu) vẫn được chuẩn bị cho các dịp trọng đại như một cách để bảo tồn nguồn năng lượng quý giá qua mùa đông.

Tuy nhiên, sự "không tưởng" còn nằm ở mức giá đắt đỏ của các loại thực phẩm nhập khẩu. Một bó xà lách hay vài quả táo có thể có giá cao gấp 5 đến 10 lần so với ở châu Âu, khiến việc có một đĩa rau xanh trên bàn ăn trở thành một biểu tượng của sự xa xỉ.

Nhịp sinh học giữa hai cực của ánh sáng

Cuộc sống của người Greenland bị chi phối mạnh mẽ bởi hiện tượng "Mặt trời nửa đêm" và "Đêm cực". Vào mùa hè, khi ánh nắng không bao giờ tắt suốt 24 giờ, người dân dường như quên đi khái niệm đi ngủ. Họ có thể đi câu cá, nướng thịt hay dạo chơi ngoài trời vào lúc 2 giờ sáng.

Ngược lại, khi mùa đông tràn về với bóng tối bao trùm suốt nhiều tháng, nhịp sống chậm lại, yên tĩnh và hướng nội hơn. Sự đối lập cực đoan này đòi hỏi một tinh thần thép để thích nghi. Người Greenland hiện đại ngày nay dù đã có internet tốc độ cao, dùng smartphone đời mới nhất để theo dõi luồng di cư của cá voi, nhưng họ vẫn giữ thói quen tụ họp trong những buổi "Kaffemik" – những bữa tiệc cà phê ấm cúng để cùng nhau trò chuyện, thắt chặt tình thân giữa cái lạnh âm hàng chục độ C.

Lời kết cho một hành trình bền bỉ

Cuộc sống tại Greenland không dành cho những ai ưa thích sự dễ dàng. Đó là một lối sống đòi hỏi sự tôn trọng tuyệt đối dành cho thiên nhiên và khả năng tìm thấy niềm vui trong những điều giản đơn nhất. Giữa những tảng băng trôi khổng lồ và cái lạnh thấu xương, người dân nơi đây vẫn đang viết tiếp câu chuyện về một nền văn minh độc bản, nơi giá trị con người được đo bằng sự kiên định và khả năng mỉm cười trước những cơn bão tuyết.

Sunday, 1 February 2026

Cuộc sống không tưởng của người Greenland

 Chi Chi, 

Nơi đây, người dân có cuộc sống không giống với phần còn lại của thế giới.

Tại Greenland, hòn đảo rộng lớn hơn hai triệu cây số vuông nhưng chỉ có 56.000 dân, cuộc sống không chỉ là sự tồn tại giữa băng giá mà là một bản hòa ca kỳ lạ giữa công nghệ hiện đại và những bản năng sinh tồn cổ xưa. Đến với vùng đất này, những khái niệm quen thuộc về giao thông, ẩm thực hay nhịp sống đô thị của chúng ta sẽ hoàn toàn bị đảo lộn, nhường chỗ cho một lối sống mà người bản địa gọi là "Kalaallit" – sự kiên cường của con người trước sự khắc nghiệt của phương Bắc.

Thế giới không có những con đường nối liền

Điều đầu tiên khiến bất kỳ ai đặt chân đến Greenland cũng phải ngỡ ngàng là sự vắng bóng hoàn toàn của mạng lưới đường bộ liên tỉnh. Tại đây, bạn không thể lái xe từ thị trấn này sang thị trấn khác. Mỗi cộng đồng dân cư giống như một "ốc đảo" tách biệt giữa đại dương băng.

Nếu muốn đi thăm người thân ở thành phố bên cạnh, người dân chỉ có hai lựa chọn: hoặc là bay bằng trực thăng, phi cơ nhỏ, hoặc là lênh đênh trên những con tàu vượt biển. Vào mùa đông, khi mặt biển đóng băng dày đặc, xe trượt tuyết và những đàn chó kéo lại trở thành "huyết mạch" duy nhất kết nối những tâm hồn cô độc giữa tuyết trắng. Chính sự cách trở này đã tạo nên một cộng đồng gắn kết cực kỳ chặt chẽ, nơi mỗi chuyến đi đều là một hành trình mạo hiểm và sự gặp gỡ luôn mang ý nghĩa thiêng liêng.

Những ngôi nhà bảy sắc cầu vồng và mật mã của quá khứ

Khi nhìn từ trên cao, các thị trấn của Greenland hiện lên rực rỡ như những bộ đồ chơi Lego khổng lồ giữa nền tuyết trắng xóa. Những ngôi nhà gỗ với đủ tông màu đỏ, xanh dương, vàng, xanh lá không chỉ để làm đẹp hay chống lại sự đơn điệu của mùa đông dài.

Thực tế, đây là một di sản từ thời kỳ thuộc địa, nơi màu sắc của ngôi nhà đóng vai trò như một bảng chỉ dẫn chức năng: nhà màu đỏ là tiệm buôn hoặc nhà của bác sĩ, màu vàng dành cho bệnh viện, màu xanh dương dành cho nhà máy cá và màu đen dành cho đồn cảnh sát. Dù ngày nay người dân có thể tự do chọn màu sắc theo sở thích, nhưng thói quen tô điểm rực rỡ cho không gian sống vẫn được duy trì như một cách để sưởi ấm tâm hồn và khẳng định sự hiện diện của con người giữa đại lục băng giá.

Ẩm thực từ lòng đại dương và những bài học về sự tiết kiệm

Trong một môi trường mà nông nghiệp gần như là con số không, người dân Greenland đã học cách tận dụng tối đa những gì thiên nhiên ban tặng. Một bữa tối "thượng hạng" của người bản địa không phải là bò steak hay gà rán, mà là món Suaasat – súp thịt hải cẩu truyền thống, hay Mattak – da cá voi sống giàu vitamin C. Thậm chí, món Kiviaq kỳ lạ (chim lên men trong da hải cẩu) vẫn được chuẩn bị cho các dịp trọng đại như một cách để bảo tồn nguồn năng lượng quý giá qua mùa đông.

Tuy nhiên, sự "không tưởng" còn nằm ở mức giá đắt đỏ của các loại thực phẩm nhập khẩu. Một bó xà lách hay vài quả táo có thể có giá cao gấp 5 đến 10 lần so với ở châu Âu, khiến việc có một đĩa rau xanh trên bàn ăn trở thành một biểu tượng của sự xa xỉ.

Nhịp sinh học giữa hai cực của ánh sáng

Cuộc sống của người Greenland bị chi phối mạnh mẽ bởi hiện tượng "Mặt trời nửa đêm" và "Đêm cực". Vào mùa hè, khi ánh nắng không bao giờ tắt suốt 24 giờ, người dân dường như quên đi khái niệm đi ngủ. Họ có thể đi câu cá, nướng thịt hay dạo chơi ngoài trời vào lúc 2 giờ sáng.

Ngược lại, khi mùa đông tràn về với bóng tối bao trùm suốt nhiều tháng, nhịp sống chậm lại, yên tĩnh và hướng nội hơn. Sự đối lập cực đoan này đòi hỏi một tinh thần thép để thích nghi. Người Greenland hiện đại ngày nay dù đã có internet tốc độ cao, dùng smartphone đời mới nhất để theo dõi luồng di cư của cá voi, nhưng họ vẫn giữ thói quen tụ họp trong những buổi "Kaffemik" – những bữa tiệc cà phê ấm cúng để cùng nhau trò chuyện, thắt chặt tình thân giữa cái lạnh âm hàng chục độ C.

Lời kết cho một hành trình bền bỉ

Cuộc sống tại Greenland không dành cho những ai ưa thích sự dễ dàng. Đó là một lối sống đòi hỏi sự tôn trọng tuyệt đối dành cho thiên nhiên và khả năng tìm thấy niềm vui trong những điều giản đơn nhất. Giữa những tảng băng trôi khổng lồ và cái lạnh thấu xương, người dân nơi đây vẫn đang viết tiếp câu chuyện về một nền văn minh độc bản, nơi giá trị con người được đo bằng sự kiên định và khả năng mỉm cười trước những cơn bão tuyết.

Wednesday, 28 January 2026

Sống chung với Tuổi Già

 Ai cũng tới lúc già đi, hãy sẵn sàng "sống chung với tuổi già".

"Ôi cái bụng bự của tôi", "Dạo này cứ 3, 4 giờ sáng là thức", "Giời ạ, cứ nhớ trước quên sau, hay bị mất trí nhớ rồi ta!"... Đó là dấu hiệu bạn đang bước vào quá trình lão hóa.
Sinh-lão-bệnh-tử, bình thường, ai cũng phải qua bốn bước. Vậy bạn phải chấp nhận tuổi già sẽ ập đến.


Bao nhiêu người trong chúng ta muốn có một hướng dẫn đáng tin cậy với bằng chứng cụ thể về quá trình lão hóa, khi cơ thể và tâm trí sẽ thay đổi theo tuổi già và cách thích ứng với "bình thường mới"? Đó là một thách thức lớn. Lý do, quá trình lão hóa làm thay đổi con người diễn ra dần dần qua nhiều thập niên và được định hình bởi hoàn cảnh kinh tế xã hội của mỗi cá nhân; khu vực sống, cách sống và các yếu tố khác nữa.

Ngoài ra, dù chúng ta có các vấn đề sinh lý chung khi già đi, nhưng không theo cùng lộ trình mù mịt phía trước. Bác sĩ Rosanne Leipzig, phó Chủ tịch giáo dục tại Khoa Lão khoa và Y học Giảm nhẹ Brookdale tại Trường y Icahn School of Medicine ở Mount Sinai, New York, nhận định: "Những thay đổi có thể dự đoán được không nhất thiết phải xảy ra cùng lúc hoặc theo cùng một trình tự. Những người lớn tuổi là nhóm không đồng nhất nhất trong các nhóm tuổi khác nhau".
Leipzig, 72 tuổi, đang dành ra toàn thời gian để giảng dạy nội trú và nghiên cứu sinh cũng như khám bệnh cho bệnh nhân vừa xuất bản cuốn sách mới: "Honest Aging: An Insider's Guide to the Second Half of Life" được đánh giá là: "Cuộc kiểm tra toàn diện nhất về những gì sẽ xảy ra trong nhiều chục năm khi chúng ta già dần".
Leipzig có hai mục tiêu khi viết hướng dẫn này. Thứ nhất là: "Để vượt qua tất cả những suy nghĩ tiêu cực về lão hóa". Thứ hai là: "Để giúp mọi người hiểu rằng có rất nhiều điều người già có thể làm trong việc thích nghi với trạng thái bình thường mới để có cuộc sống chất lượng hơn và có ý nghĩa".
Khi được hỏi tại sao tựa sách lại có cụm từ "Honest Aging" (Tuổi già trung thực), bà giải thích: "Bởi vì có quá nhiều thứ dạy cách thích nghi với tuổi già là không đáng tin cậy. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nên tự nhủ: Già đi chính là 'mặc định' của loài người và thừa nhận chúng ta thật may mắn khi có thêm được ngần ấy năm sống với tuổi già".
Mức tăng tuổi thọ của con người là phi thường trong thời kỳ hiện đại. Với những tiến bộ trong y học và sức khỏe cộng đồng, số người từ 60 tuổi trở lên đông hơn rất nhiều so với đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, đa số chúng ta đều thiếu hiểu biết rõ ràng về những gì xảy ra với cơ thể mình trong một khoảng thời gian đôi khi rất dài sau tuổi trung niên.
 Khi được hỏi, những câu hỏi nào người lớn tuổi thường hỏi nhất? Leipzig đưa ra một danh sách: Tôi có thể làm gì với cái bụng phệ này? Làm thế nào tôi có thể cải thiện giấc ngủ? Tôi gặp khó khăn khi nhớ tên và đây có phải là chứng mất trí nhớ? Tôi có thực sự cần nội soi hoặc chụp quang tuyến vú không? Tôi nên làm gì để lấy lại vóc dáng? Tôi có cần phải ngừng lái xe?"
Đằng sau những câu hỏi này là sự hiểu biết kém về những thay đổi 'không thể tránh khỏi' về thể chất và tinh thần mà tuổi già mang lại – bà nói và khẳng định – Các giai đoạn lão hóa không thể chia nhỏ theo từng thập niên. Những người ở độ tuổi 60 và 70 có sự khác biệt đáng kể về sức khỏe và chức năng.
"Thông thường, những thay đổi có thể dự đoán được liên quan đến quá trình lão hóa diễn ra nhiều hơn ở độ tuổi từ 75 đến 85". Leipzig lên danh sách các vấn đề liên quan đến tuổi tác cần chú ý:
 – Người lớn tuổi thường có các triệu chứng khác với người trẻ tuổi khi bị bệnh. Ví dụ, người lớn tuổi bị đau tim có thể khó thở hoặc lú lẫn thay vì đau ngực. Người lớn tuổi bị viêm phổi có thể bị ngã hoặc chán ăn thay vì sốt và ho.
– Người già thường phản ứng khác với người trẻ với thuốc và rượu. Do những thay đổi về thành phần cơ thể và chức năng gan, thận, ruột, người lớn tuổi nhạy cảm hơn với thuốc và thường dùng liều lượng thấp hơn, kể cả các loại thuốc sử dụng đã nhiều năm.
– Người già giảm dự trữ năng lượng. Khi tuổi càng cao, tim hoạt động càng kém hiệu quả; phổi chuyển ít oxy vào máu hơn và cần nhiều protein hơn để tổng hợp cơ. Khối lượng cơ và sức mạnh cũng giảm. Kết quả, người già có ít năng lượng hơn lúc còn trẻ, ngay cả lúc cần nhiều năng lượng hơn để làm các công việc hàng ngày.
– Đói và khát cũng giảm dần. Vị giác và khứu giác của con người giảm sút, khiến món ăn bớt sức hấp dẫn. Chán ăn phổ biến hơn ở người cao tuổi và người già dễ no hơn dù ăn ít hơn. Nguy cơ mất nước tăng lên.
 – Nhận thức chậm lại. Người lớn tuổi xử lý thông tin chậm hơn và phải mất nhiều thời gian hơn để hiểu thông tin mới. Đa nhiệm cũng khó khăn hơn, phản ứng chậm hơn và khó tìm đúng từ (đặc biệt là danh từ) hơn. Những thay đổi về nhận thức do thuốc và bệnh tật xảy ra thường xuyên hơn nhưng đa số là bình thường và không phải dấu hiệu của bệnh mất trí nhớ.
– Hệ thống cơ xương kém linh hoạt. Do các gai ngắn lại, các đĩa đệm ngăn cách các đốt sống cứng hơn và bị nén nhiều hơn, người lớn tuổi thường giảm chiều cao từ 1 đến 3 inch. Khả năng giữ thăng bằng bị giảm do những thay đổi ở tai trong, não và hệ thống tiền đình (một hệ thống phức tạp điều chỉnh sự cân bằng và ý thức về cảm giác). Người già định hướng không gian đường phố kém dần. Các cơ ở chân, hông và mông suy yếu và phạm vi chuyển động của các khớp hẹp dần. Gân và dây chằng không còn khỏe nữa. Té ngã và gãy xương thường xuyên hơn do xương giòn hơn.
– Thị lực và thính giác thay đổi. Người già cần nhiều ánh sáng để đọc hơn người trẻ. Họ khó nhìn thấy đường viền của các vật thể hoặc khó phân biệt giữa các màu gần giống vì khả năng nhận thức về màu sắc và độ tương phản đã suy giảm.
Do những thay đổi ở giác mạc, thủy tinh thể và chất lỏng trong mắt, mắt sẽ mất nhiều thời gian hơn để thích nghi với ánh sáng mặt trời cũng như bóng tối. Do các tế bào lông ở tai trong bị tổn thương nên người già khó nghe hơn, đặc biệt là ở tần số cao. Cũng khó hiểu được câu nói nhanh, câu nói chứa nhiều thông tin hoặc nói trong môi trường ồn ào.
– Giấc ngủ rời rạc. Người lớn tuổi mất nhiều thời gian hơn để chìm vào giấc ngủ và thức giấc nhiều hơn vào ban đêm.
Để giảm nhẹ các ảnh hưởng trên, Leipzig đề nghị các điều chỉnh người già nên làm.
– Đừng bỏ qua những thay đổi đột ngột trong chức năng vận động mà cần tìm kiếm sự chăm sóc y tế.
 – Mỗi lần đến gặp bác sĩ, hãy hỏi thuốc đang dùng liều lượng đã phù hợp chưa và có thể ngừng loại thuốc nào.
– Hãy chịu khó vận động thể chất nhẹ.
 – Hãy chắc chắn đã ăn đủ chất đạm, uống đủ nước ngay cả khi không thấy khát.
– Giảm bớt đa nhiệm và làm việc theo khả năng của mình.
– Thực hiện các bài tập thăng bằng.
– Hãy kiểm tra mắt hàng năm.
– Dùng trợ thính nếu thấy khó trò chuyện.
 - Không tập thể dục, uống rượu và ăn nhiều trong hai đến ba giờ trước khi đi ngủ.
Cuối cùng, "Đừng bao giờ nói 'không bao giờ' vì luôn có cách cải thiện tình trạng thể chất và tinh thần khi chúng ta già đi. Vấn đề là bạn phải luôn sẵn sàng sống chung với tuổi già," Leipzig kết luận.
Lương Thái Sỹ (bài do bạn Bá Trần giới thiệu)

Nỗi Đau Lớn Nhất Của Tuổi Già..

Bảy mươi tuổi tôi mới hiểu: nỗi đau lớn nhất không phải là nhà trống trải.
Tôi tên là María.
Năm nay tôi tròn bảy mươi. Con số tròn, nghe sang thật đấy, mà chẳng đem lại chút niềm vui nào. Cả cái bánh sinh nhật con dâu làm cũng nhạt thếch. Hay có lẽ tôi đã mất vị giác — với đồ ngọt lẫn với sự quan tâm.

Lâu lắm rồi tôi vẫn nghĩ: già nghĩa là cô đơn — một căn nhà im ắng, điện thoại chẳng reo, cuối tuần chẳng ai ghé. Tôi tưởng đấy mới là nỗi đau tệ nhất.
Bây giờ tôi biết: còn tàn nhẫn hơn cả khoảng trống, là một ngôi nhà đầy người nhưng mình bị vô hình.
Chồng tôi mất mười năm trước.
Bốn mươi năm bên nhau. Một người đàn ông mộc mạc, vững chãi. Ông sửa được cái cửa kẹt, nhóm được bếp lửa, và luôn tìm đúng một câu ngắn gọn để tôi thấy yên lòng. Ông đi rồi, chân tôi như đứng trên khoảng không.
 Tôi ở lại với hai đứa con — Carlo và Laura. Tôi cho chúng tất cả. Không phải vì bổn phận, mà vì tôi chẳng biết yêu theo cách nào khác.
 Chẳng có chuyến đi xa hay bằng cấp oách, nhưng tôi luôn có mặt: lúc con sốt, lúc làm bài, lúc gặp ác mộng. Tôi nghĩ tình thương rồi sẽ quay lại với mình.
Dần dần, những lần ghé thăm thưa hẳn.
—  Mẹ ơi, con bận.
—  Cuối tuần này cũng không được đâu mẹ.
Và tôi chờ.
Một ngày, Carlo bảo:
—  Mẹ về ở với tụi con đi, cho mẹ có người bầu bạn.
Tôi xếp đồ. Cái mền tặng cô hàng xóm, cái ấm pha cà phê đem cho, cây đàn piano thì bán — rồi tôi về căn nhà rộng rãi, sáng sủa của con.
Ban đầu, dễ chịu lắm. Cháu trai ôm tôi, Laura rót cà phê cho tôi. Rồi mọi thứ đổi khác.
—  Mẹ ơi, vặn nhỏ tivi lại.
—  Mẹ ở trong phòng nhé, nhà có khách.
—  Mẹ chưa bỏ đồ giặt chung với tụi con sao?
Và những câu nói cứ dính chặt lên tường:
—  Tụi con mừng vì mẹ ở đây, nhưng đừng làm nhiều quá.
—  Mẹ ơi, đây không còn là nhà của mẹ nữa.
Tôi cố giúp: nấu ăn, giặt giũ, trông cháu. Nhưng như thể tôi không tồn tại. Hoặc tệ hơn: tôi là gánh nặng.
Một đêm, tôi nghe Laura nói chuyện điện thoại:
—  Mẹ chồng như bức tượng ở góc nhà. Có cũng như không. Thế lại... dễ cho mình hơn.
Đêm đó tôi không ngủ. Nhìn trần nhà và hiểu: người thân ở ngay bên, mà mình cô độc nhất đời.
Một tháng sau, tôi đi. Tôi nói có bạn rủ về quê ở chung.
— Mẹ đi vậy cũng tốt, Carlo đáp, nghe như thở phào.
Giờ tôi ở một căn phòng nhỏ ngoài rìa Granada. Tôi tự pha cà phê, đọc sách, viết những lá thư chẳng bao giờ gửi. Không ai chen ngang, không ai phán xét. Bảy mươi tuổi, tôi không mong gì nhiều. Chỉ muốn còn cảm thấy mình là một con người — không phải gánh nặng, không phải cái bóng.
Tôi đã hiểu:
Cô đơn thật sự không phải là sự im lặng của căn nhà.
 Đó là khi những người mình yêu ở ngay gần, mà chẳng ai nhìn thẳng vào mắt mình.
 Khi người ta chịu đựng mình thay vì lắng nghe.
Khi mình vẫn ở đó, nhưng đã bị coi như vô hình.
Tuổi già không nằm trên nếp nhăn.
 Tuổi già là tình yêu bạn đã từng cho đi...
và còn ai cần đến nữa.

 ***

 Văn Chương/quinhon 11
Gởi ai đã và sắp đến tuổi già.

Bài viết của một tác giả không nhớ rõ tên, có một nội dung quá thâm thuý, dành cho những ai trong tuổi Cao Niên nếu muốn có một đời sống hạnh phúc trong những ngày còn lại trên trần gian này, trước khi thân xác trở về cát bụi thì nên suy luận những điều được nêu ra trong bài viết này.


Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, chúng ta lang thang trong khuôn viên trường đại học, vui cười vô tư và bây giờ đã hơn 40 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già !

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, chúng ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc vì qua một ngày, chúng ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, chúng ta vui một ngày. Vui một ngày...rồi không biết được bao nhiêu ngày nửa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xãy ra trong đời sống.

Hạnh phúc là những gì hiện đang ở chung quanh chúng ta, trong tầm tay chúng ta. Nhà nho Nguyễn Công Trứ quan niệm " Tri túc, đãi túc, tiện túc, hà thời túc. Tri nhàn, đãi nhàn, tiện nhàn, hà thời nhàn"...


Tiền rất quan trọng trong đời sống của con người nhưng tiền không phải là tất cả. Đừng quá coi trọng đồng tiền và cũng đừng lệ thuộc vào đồng tiền, mặc dù biết rằng nếu không có tiền thi làm sao chúng ta sống, làm sao để được thoải mái.

Ta vẫn biết khi ta ra đời,ta đâu có mang nó đến và khi ra đi, chúng ta cũng không mang nó theo.
Đồng tiền có thể mua một lâu đài to lớn nhưng đồng tiền không mua được mái ấm gia đình.
Đồng tiền giúp chúng ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.
Quảng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú .
Những gì cần ăn thì cứ ăn, cần mặc thì cứ mua sắm, muốn đi du lịch thì cứ đi. Tập cho mình có nhiều đam mê, tự tìm niềm vui cho chính mình.

Vào trong internet để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin hay, một chuyện vui, một bản nhạc, đọc những bài viết có giá trị, hay "chat" với người quen biết. Chúng ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt.


Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Rảnh rổi đi làm những việc từ thiện xã hội, giúp một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,... lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già


Hơn nửa đời, chúng ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẽ.
Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cử thì không đủ chất bổ dưởng, quá nhàn rổi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu...


Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh hoạt trong các Hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gở bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nửa.


Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chổ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghỉ là: " Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nửa". Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.

Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không Bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.

Ở tuổi hiện tại, chúng ta đừng nghỉ đến đồng tiền, đừng nghỉ đến giàu hay nghèo nửa và cũng đừng than trách hay hối hận vì những lầm lỗi trong quá khứ và cũng đừng tự hỏi là tại sao bây giờ ta không có nhiều tiền. Đừng nói ta không có tiền.


Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẩu của chúng ta.

Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì ta cần vì sẽ có lúc chúng ta để lại cho người khác xài. Nếu hôm nay ta còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.

Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.
Cuối tuần, hẹn nhau với người bạn đi câu cá, hưởng không khí trong lành của thiên nhiên và cũng để cho tâm tư lắng đọng, tinh thần thanh thản. Đó là những niềm vui trong cuộc sống cuả tuổi già.

 

*********************************