Thai Nam Tran
Sunday, 3 May 2026
Saturday, 2 May 2026
Câu chuyện kể
Câu Chuyện Kể Của Một Người Chiến Thắng Khi Vào Nam – Chỉ có người TRI THỨC mới biết mình bị lừa.
Ký Ức Một Thanh Niên Hà Nội Về Ngày 30-4-1975
Lời mở đầu của tác giả Phạm Thắng Vũ:
Bạn đang ở đâu? Làm gì trong cái ngày 30-4-1975? Có
thể ngày đó là ngày chào đời của một em bé (mà giờ đây em bé đó đã con cái đầy
nhà), hoặc là lúc chấm dứt sinh mệnh của một người như trường hợp của Trung tá
Cảnh Sát Quốc Gia miền Nam VNCH Nguyễn Văn Long. Tất nhiên, người đó không thể
ngồi kể cho chúng ta nghe về những giây phút... lịch sử khi đấy nhưng bạn bè,
thân nhân bên cạnh vẫn có thể kể lại. Võ Văn Kiệt, một lãnh tụ Việt Cộng miền
Nam khi hồi ức lại cái ngày lịch sử này đã nói: " 30 tháng Tư năm 1975 có
hàng triệu người vui thì cũng có hàng triệu người buồn ". Bùi Tín, một cựu
sĩ quan CS Bắc Việt trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên (ICCS) đã chua chát:
"... tự hổ thẹn từng cao ngạo vô duyên về chuyện vào dinh Độc Lập sớm, xế
trưa 30-4, vớ vẩn, lạc điệu cả, cá nhân lầm lạc, ngộ nhận hết ".
Bài dưới đây là tâm tình của anh H, một người bà con
trong họ đã kể cho nghe, PTV chép lại.
Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi đang ngồi trong căng
tin của nhà máy Hoá Chất Việt Trì thì tai nghe những tiếng la hét ầm ĩ vui nhộn
từ phòng thông tin của Công Đoàn nhà máy. " Thắng rồi... Ta thắng rồi...
Dương Văn Minh đầu hàng rồi... ", tôi bỏ dở cốc nước chè và cùng vài người
chạy vội ra xem chuyện gì. Một nhóm công nhân đang vây chung quanh anh Minh,
thư ký Công Đoàn cho biết tin vừa nhận được qua đài Tiếng Nói Việt Nam là quân
ta đã chiếm được Dinh Độc Lập, bắt Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng. Nghe
vậy, những tiếng hét lớn vui mừng một lần nữa lại vang lên. Những ngày trước
đây, kể từ sau trận đánh vào Buôn Mê Thuột, Đoàn Thanh Niên Lao Động Hồ Chí
Minh của nhà máy đã làm một áp phích lớn vẽ bản đồ của 44 Tỉnh miền Nam Việt
Nam Cộng Hòa và dựng nó gần cổng ra vào. Trên tấm áp phích đó, cứ mỗi khi được
tin quân ta giải phóng thêm tỉnh nào thì lập tức tỉnh đó được vẽ một lá cờ Đỏ
sao Vàng ngay. Tôi đã thấy càng lúc càng nhiều lá cờ Đỏ sao Vàng xuất hiện trên
tấm áp phích chỉ trong một thời gian ngắn đến nỗi phải hoài nghi, dù không nói
ra mặt. Bây giờ, điều nghi ngờ đó đã thật rồi, mừng quá đi. Thôi từ nay là hết
chiến tranh và những thanh niên miền Bắc sẽ không còn phải xuôi Nam chiến đấu
trong chiến trường B nữa. Và điều quan trọng tôi sẽ gặp lại người cha ruột đã
xa cách gia đình tới 21 năm rồi. Hôm đó, như để cùng chào mừng với niềm vui lớn
của đất nước, trừ những khâu cần phải vận hành máy chạy liên tục còn tất cả các
khâu lao động trong các phân xưởng và các phòng ban khác được ban lãnh đạo nhà
máy cho nghỉ việc sớm để mang tin vui về cho gia đình biết. Tôi phóng nhanh xe
đạp về nhà báo tin cho mẹ tôi biết ngay tin vui này.
Về đến nhà, dắt xe vào trong, chưa kịp khoe tin thì mẹ
tôi đã nói: " Sao nay con về sớm vậy? Bộ đội vào tới Sài Gòn rồi con biết
chưa? ". Tôi trả lời mẹ là đã biết, được nhà máy cho về sớm định kể mẹ
nghe đây. Mẹ tôi ngồi ở bàn sát cửa sổ như đang suy nghĩ điều gì. Tôi cởi áo đi
ra giếng nước sau nhà múc nước tắm sau đó quay trở vào mà vẫn thấy mẹ tôi ngồi
yên tại chỗ. Tôi bước lại bên bà, hỏi: " U sao vậy? " và đặt tay tôi
lên trán bà, tiếp: " U cảm hay sao nói cho con biết với ". Nhưng bà
nhìn tôi, miệng cười mỉm, trả lời:
– Không con. Mẹ khoẻ mà... có điều mẹ đang nghĩ về
thầy con thôi. Không biết thầy con bây giờ trong đó đang như thể nào?
Nghe thế, tôi đi mở cái tủ gỗ gụ cũ, lục lọi rồi lấy
ra tấm ảnh đen trắng chụp chân dung cha tôi đã cũ, ố vàng. Quên nói, mẹ tôi
thường gọi cha tôi bằng Thầy và tôi gọi mẹ bằng U. Trong ảnh, một người đàn ông
mặc bộ đồ trận rằn ri, ánh mắt nghiêm nghị, đứng cạnh lề đường một khu nào đó
trong thành phố Sài Gòn của miền Nam. Tấm ảnh này là tấm duy nhất, gia đình
nhận được từ cha tôi, khi hai miền Nam-Bắc còn liên lạc được bằng thư từ.
Cha tôi, theo lời mẹ kể lại là một chiến binh trong
lực lượng Dù thuộc quân đội Liên Hiệp Pháp. Những ngày cuối cuộc chiến năm
1954, đơn vị ông được máy bay thả xuống tiếp sức cho căn cứ Điện Biên Phủ đang
bị vây hãm để không lâu sau đó, căn cứ nầy lọt vào tay bộ đội Việt Minh. May
mắn thoát chết, bị bắt làm tù binh một thời gian ngắn rồi ông được trả tự do và
theo đơn vị quay về Hà Nội. Những ngày cuối của Hiệp Định Geneva, ông đã cho
người về quê Sơn Tây đón mẹ con tôi lên để cùng ông vào miền Nam nhưng chuyện
không thành, ông phải theo đơn vị vô Sai Gòn trước. Thực ra chuyến đi ra Hà Nội
khi đó, đoàn người làng có hai mẹ con tôi đã bị cán bộ Việt Minh lừa đưa vào
tạm trú trong khu rừng vắng. Khi đoàn người được phép ra khỏi rừng thì thời hạn
di cư đã qua, gia đình bị chia cắt từ đó lúc tôi mới được gần một tuổi.
Hai mẹ con quay trở về Hà Nội sống trong gian nhà của ông ngoại tôi. Là dân thành thị, mẹ tôi biết cắt may quần áo rất khéo và nhờ cái tài này mà bà đã nuôi tôi ăn học tới khi lớn. Tôi được nghe kể là các cán bộ đã tìm bà để đặt may quần áo cho họ rồi khi các Hợp Tác Xã May Mặc giải thể, bà đã tìm mua sở hữu thực thụ được một máy may cũ và nhờ vậy mà cuộc sống đỡ vất vả so với nhiều người khác. Tuổi ấu thơ của tôi gắn liền với thành phố Hà Nội từ những làn sương mờ buổi ban mai trên mặt Hồ Tây, mùi không khí đường phố quyện với lá cây sau các cơn mưa rào. Những buổi trưa mùa Hè, trốn mẹ đi chơi, tôi cùng chúng bạn kéo nhau lang thang vào vườn bách thảo, quanh các bờ hồ hoặc trèo lên những cây bên vệ đường để tìm bắt các chim non còn trong tổ.
Có khi lại rình ném đá vào nhà hàng xóm buổi nghỉ trưa để rồi cả bọn ù té chạy khi chủ gia mở cửa ra nhìn. Khi tuổi lớn hơn, tôi mới nhận ra những khác biệt giữa mình và các bạn đồng trang lứa mỗi lần nghe chuyện chiến tranh về miền Nam. Có những buổi sinh hoạt chung mà người phụ trách không cho tôi tham dự. Lúc đó, tôi cũng không hiểu tại sao? Có khi về hỏi mẹ thì bà chỉ thở dài, nói vắn tắt: " Thôi con, họ không cho sinh hoạt thì về nhà với mẹ ". Rồi những năm chiến tranh lan ra miền Bắc. Máy bay Mỹ ném bom nhiều nơi và rồi ngay ở cả Hà Nội nữa. Những đợt bom chùm tuốt từ trên mây rải xuống đã phá huỷ nhiều khu phố lớn. Cảnh người chết mất xác trong các đống gạch vụn cùng lửa khói cháy nghi ngút khiến ai cũng sợ.
Đành phải kéo nhau đi sơ tán về các miền quê cho an
toàn. Hai mẹ con tôi về quê nội trong một làng ở tỉnh Sơn Tây cũ. Đây là vùng
bán sơn địa có ruộng có vườn cùng các núi đồi rất đẹp. Trong làng có nhiều đứa
thiếu niên trạc tuổi tôi và tôi rất muốn làm bạn cùng chơi với chúng nhưng họ
không thích tôi ra mặt. Trẻ em đã vậy mà người lớn cũng nói xấu, dèm pha sau
lưng mẹ tôi mỗi khi họ gặp mặt nhau trên đường hoặc trong phiên chợ. Tôi đành
kết bạn với mẹ thôi, không ai khác.
Đến tuổi trưởng thành, thấy nhiều thanh niên xung phong vào bộ đội, tôi cũng giơ tay xung phong nhưng bị cán bộ trong Ban Tuyển Quân từ chối. Tuổi thanh niên, hình ảnh người chiến sĩ với cây súng cuốn hút tôi lắm nhưng họ không nhận thì đành chịu. Về kể lại cho mẹ tôi biết, bà chép miệng nói làm sao họ cho con vào bộ đội được rồi trách khẽ: " Có mỗi một mình mẹ mà con định bỏ đi sao! ". Thêm vào đó, tôi rất chật vật khi xin một việc làm. Đơn gửi tận tay nhiều nơi mà không hề có chút hồi báo làm tôi buồn. Không lẽ thân đã lớn lại cứ để mẹ phải nuôi mình mãi nhưng đi xin việc không ra.
Tôi có lúc nhủ thầm chắc số mình đến phải làm ruộng nhưng ruộng, nhà
cũng không có. May mắn làm sao, mẹ tôi tình cờ gặp lại một người bạn học cũ với
bà năm xưa khi còn trẻ. Người này nay đã là một cán bộ cao cấp và nhờ sự giúp
đỡ của ông ta, tôi mới được vào làm việc trong nhà máy Hoá Chất Việt Trì. Rồi
cũng nhờ ông ta giúp mà tôi mới được công đoàn nhà máy phân phối cho một phòng
nhỏ ở trong khu tập thể. Tôi đưa mẹ lên đó cùng sống chung.
Hai tháng sau cái ngày chiến thắng miền Nam, mẹ tôi về
lại Hà Nội để dò hỏi tung tích của cha tôi. Trong họ hàng bên nội, khi đó thì
đã có người vào miền Nam công tác rồi và nhờ thế đã tìm được các thân nhân theo
các địa chỉ cũ năm xưa. Khi quay trở lại miền Bắc, người bà con này gặp mẹ tôi
và cho biết các tin tức về cha tôi. Cha tôi là một sĩ quan quân đội cao cấp của
chính quyền miền Nam và đã phải bị học tập cải tạo. Thêm một tin nữa, ông đã
lập gia đình khác và có được 2 người con gái. Quay về nhà, mẹ tôi cho biết tin
và khi kể chuyện, không hiểu vì nghĩ đến việc học tập cải tạo rồi liên tưởng
những cảnh tù tội của cha tôi năm xưa lúc bị bắt làm tù binh hay vì cám cảnh
thân phận mà mẹ tôi khóc rất nhiều.
Tôi dỗ mẹ đừng khóc nhưng rồi tôi cũng khóc theo mẹ.
Mẹ tôi rất muốn đi vào miền Nam ngay để biết thêm các tin tức về cha tôi nhưng khi đó giao thông hai miền còn khó khăn lắm, vẫn còn hạn chế chỉ ưu tiên cho những cán bộ đi công tác. Đường xuyên Việt nhiều nơi phải sửa chữa và đường sắt nhiều vùng đã mất hẳn từ lâu. Chiến tranh bao năm trời đâu phải một sớm một chiều mà thông đường ngay được. Cơn háo hức vào miền Nam để tìm gặp cha tôi cùng gia đình riêng của ông cũng dần dần nguôi ngoai trong lòng mẹ tôi. Thôi thì cứ chờ vậy. Tôi vẫn tiếp tục đi làm, cũng không hề nghĩ là có ngày mình sẽ đặt chân vào miền Nam và thành phố Sài Gòn, thủ đô của chế độ cũ. Dịp đến đó là nhà máy Hoá Chất Việt Trì tổ chức một cuộc họp lớn có sự tham dự của cán bộ Tổng Cục Hóa Chất từ trung ương về chủ trì. Theo kế hoạch thì nhà nước cần khá đông cán bộ và công nhân viên trong ngành xung phong vào tiếp quản các nhà máy hóa chất ở miền Nam.
Tin về một xã hội miền Nam đói
nghèo, lạc hậu do chính miệng những bộ đội miền Bắc từ chiến trường B (miền
Nam) trở về phục viên kể lại trong các tháng trước đã làm con số người xung
phong chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ai cũng sợ khổ, sợ phải xa gia đình để
đến công tác trong vùng đất đói-nghèo đến nỗi cả bát ăn cơm cũng còn thiếu,
không có. Không công nhân viên, cán bộ nào chịu tình nguyện xung phong nên lãnh
đạo nhà máy phải họp và xét hoàn cảnh riêng từng người một để chỉ định bắt buộc
phải đi. Tên tôi đã được họ chọn nên đành phải chuẩn bị hành lý để theo đoàn
vào Nam dù tôi không muốn bởi đi thì tạm thời phải xa mẹ.
Vì đường sắt vẫn chưa sửa xong, chúng tôi 18 người
ngồi nằm chung với hành lý trong chiếc xe tải Molotova cũ kỹ của đoàn xe trực
chỉ vào miền Nam. Trên xe tuy mệt nhưng có cái thú ngồi ngắm cảnh hai bên dọc
đường. Chúng tôi qua nhiều vùng, địa danh trước giờ chỉ nghe tên trên báo trên
đài. Hố bom, cầu sập, đường bị bóc từng tảng nhựa, các khu dân cư, chợ... xuất
hiện đây đó dọc theo các đoạn đường xe qua. Ngồi nhìn cảnh mới thấy đất nước
tôi nghèo khổ, tang thương quá. Ở các vùng xa thủ đô, người dân lam lũ, đói
rách, thiếu thốn lộ rõ trên ánh mắt, y phục cùng cảnh vật nơi đang sống. Miền
Bắc quê hương xã hội chủ nghĩa còn như vậy thì miền Nam bị Mỹ-Ngụy kềm kẹp chắc
chắn phải nghèo, thiếu thốn ghê lắm. Tất cả cũng vì chiến tranh do đế quốc Mỹ
reo rắc mà ra... , người đi chung trên xe chép miệng, kết luận.
Xe vừa vào địa giới miền Nam thì chúng tôi đã bấm tay nhau nhìn khung cảnh mới. Một khung cảnh khác lạ với miền Bắc. Nhà cửa, người dân cùng các công trình đô thị như cầu, đường... gần các trục lộ giao thông trông đẹp và văn minh hơn hẳn. Đi rồi nghỉ ngơi rồi đi tiếp cho đến khi đoàn xe đến được khu công nghiệp Biên Hoà. Có quá nhiều nhà máy tại đây. Đoàn 18 người chúng tôi nhìn ngang nhìn dọc từng dãy nhà máy trong khu vực này và tuy không ai nói với ai nhưng đều trầm trồ trước nền công nghiệp miền Nam. Rồi chúng tôi được phân công vào công tác trong một nhà máy có cái tên lạ hoắt là VICACO. Đây là nhà máy sản xuất chất Sút (NaOH) từ muối biển và cả Acid Chlohidric (HCL) nữa, những hóa chất quan trọng.
VICACO là một nhà máy bề ngoài trông rất nhỏ mà không ngờ bên trong lại lắp đặt các máy móc tối tân, sản xuất được các hóa chất với sản lượng, hàm lượng mà độ tinh khiết rất cao gấp nhiều lần so với cùng công nghệ như vậy tại miền Bắc. Chúng tôi ngạc nhiên và ngầm thán phục trong lòng. Nhìn những công nhân miền Nam đang lao động tại đây rồi sau đó làm việc chung với họ, tôi mới thấy người dân miền Nam khác xa người dân miền Bắc. Kiến thức chuyên môn và xã hội của họ hơn hẳn chúng tôi. Kỹ sư hơn hẳn kỹ sư, chuyên viên hơn hẳn chuyên viên của miền Bắc gửi vào và ngay cả lực lượng công nhân cũng vậy. Thêm vào đó, tình cảm của họ rất thành thực đến nỗi lúc đầu chúng tôi cứ nghĩ do họ... sợ người miền Bắc mà ra. Một sự rụt rè, cẩn thận từ lời ăn tiếng nói tự nhiên nẩy sinh trong đoàn tiếp quản chúng tôi. Ai cũng lo cũng sợ người trong nhà máy VICACO này biết trình độ thực sự của cả đám.
Sợ họ cười,
nỗi lo chính trong lòng vì dầu gì mình cũng thuộc phía người chiến thắng. Tối
về nằm nghỉ trong dãy phòng mà được biết trước đây là chỗ dành cho công nhân
ngủ qua đêm nếu phải ở lại tăng ca, tôi suy nghĩ xã hội miền Nam không hề lạc
hậu về công nghệ về con người... như lời nói trước giờ vẫn được nghe. Nhớ lại
trong buổi họp khi chọn người vào tiếp quản, cán bộ ngành Hóa từ trung ương
cũng đã khẳng định như vậy khi động viên cán bộ công nhân viên tình nguyện.
Những căn phòng nghỉ nào cũng đầy đủ tiện nghi từ các trang bị như bàn ghế,
giường ngủ, quạt trần nhà, phòng vệ sinh, đèn chiếu... Ở đây, trong chỗ khép
kín của khu công nghệ còn được như vậy thì trong thành phố Sài Gòn chắc chắn
phải rất đẹp. Tôi cũng chưa nghĩ mình sẽ ra sao khi tìm gặp được 2 cô em gái
tôi, thật khó tưởng tượng.
Rồi một ngày tôi theo đoàn vào làm các thủ tục công tác trong một toà nhà mà Tổng Cục Hoá Chất vừa tiếp quản nay trở thành trụ sở của Công Ty Hóa Chất Cơ Bản miền Nam mới thành lập nằm gần công viên có tên Chi Lăng không xa chợ Bến Thành. Lần đầu tiên trong đời tôi biết đến thang máy khi lên một phòng tuốt trên tầng thượng. Khi làm xong các giấy tờ và thủ tục tạm trú, chúng tôi được phép thoải mái đi thăm phố xá sau lời dặn dò của một thủ trưởng: " Các đồng chí phải bình tĩnh trước mọi tình huống, luôn nhớ chúng ta là kẻ chiến thắng, phải đánh giá chính xác những gì trông thấy ở xã hội miền Nam. Có phồn vinh... nhưng giả tạo ".
Ngay từ lúc còn ngồi trên xe buýt, nhìn cảnh vật dọc theo đường và khu phố dẫn vào Sài Gòn tôi đã thấy vượt trội nhiều lần so với thủ đô Hà Nội. Một vẻ bề ngoài sáng sủa, văn minh lộ ra từ cách phục sức, sinh hoạt của người dân miền Nam. Giờ đây đi tản bộ trên các con đường trong khu trung tâm thành phố mới thấy bản thân tôi, một người dân miền Bắc quá sức lạc hậu, nghèo nàn... từ bộ cánh (quần áo) trên người cùng vẻ luống cuống như dân quê lần đầu được ra tỉnh. Tôi rõ ràng xa lạ với các tiện nghi đang được người dân trong thành phố này sử dụng. Bên vệ đường và trong các cửa hiệu sang trọng đầy ắp hàng hoá thật đẹp và mới lạ lần đầu chúng tôi mới trông thấy. Ai có tiền thì cứ việc vào mua thoải mái khác hẳn với cảnh chen chúc để chờ được tới lượt mua số hàng ít ỏi như vẫn thường thấy ở các khu phố ngoài miền Bắc.
Phố xá thì thôi, những tòa nhà to đẹp thấp thoáng sau dòng xe gắn máy chạy hối hả trên đường. Khung cảnh y như ở nơi nào đó nước ngoài, một người trong đoàn chúng tôi nói nhỏ cho nhau cùng nghe. Tôi bối rối ngắm nhìn các cô gái miền Nam... nói chính xác là cô gái Sài Gòn đang dạo bước trên đường. Họ đẹp quá sức, như tiên... từ dáng điệu, mái tóc, y phục mặc trên người và nhất là khuôn mặt của họ lộ rõ vẻ sung túc đài các so với những nữ cán bộ trẻ trong đoàn chúng tôi. Tôi mỉm cười, nghĩ thầm 2 cô em gái tôi trong này chắc cũng vậy. Tôi âm thầm tách ra khỏi đoàn để tự mình đi theo ý muốn.
Rảo qua nhiều con
phố Sài Gòn rồi thấy mỏi chân, tôi lấy can đảm bước vào một hàng nước thật đẹp
nằm gần một giao lộ lớn, có tên là Cafe Minirex. Chọn một bàn sát khung cửa
kính trong suốt có thể nhìn rõ người đi bên ngoài, tôi quan sát chung quanh của
căn phòng. Bàn ghế, các bình hoa, quầy thu ngân, khách cùng vách tường trang
trí cảnh một rừng cây thật đẹp... thật không khác một tiệm ở nước ngoài trong
phim ảnh. Chợt một người hầu bàn bước đến, gật đầu chào tôi rồi ông ta niềm nở
hỏi:
– Thưa ông, ông dùng chi?
Trời ơi! Người hầu bàn này quá lịch sự khi tiếp xúc
với khách hàng thật khác hẳn với cung cách của mậu dịch viên trong các tiệm ăn
ngoài miền Bắc. Tôi lại nghĩ, hay ông ta biết tôi là cán bộ của chế độ mới qua
quần áo mặc trên người nên mới xưng hô như vậy? Tôi gọi nước uống và ngầm để ý
xem sao. Nhưng không, bất cứ có khách nào vào quán, người hầu bàn này cũng một
cách tiếp đón như vậy. Rất tự nhiên, lịch sự mà không khúm núm hoặc hách dịch.
Một thay đổi đã đến trong lòng tôi mà tôi biết điều
này cũng sẽ đến với bất kỳ người nào từ miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa khi đặt chân
vào miền Nam ở thời kỳ đó. Sài Gòn hay nói rộng ra là cả miền Nam của chế độ
Việt Nam Cộng Hòa không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy
cảnh người bóc lột người như bao lâu nay mà người dân miền Bắc được (hay bị)
báo chí, đài phát thanh Hà Nội cùng cán bộ... mô tả về con người và xã hội của
chế độ Ngụy quyền-tay sai đế quốc Mỹ. Đây là mô hình của một xã hội văn minh và
người Việt nào được sống trong xã hội này quả thật may mắn hơn sống ở xã hội Xã
Hội Chủ Nghĩa tại miền Bắc. Một xã hội như vậy lại vừa bị người bên phía chúng
tôi cướp mất đi sau cuộc chiến. Tiếc thay!
Phạm Thắng Vũ
(Viết để nhớ lại ngày 30-4-1975).
TB:
Chỉ những người trí thức mới biết mình bị LỪA, và họ bắt đầu sống trong ân hận
hối tiếc cho đến cuối đời. Tôi đã có dịp ngồi nói chuyện với một anh Giáo sư
dạy Toán người Hà Nội.
Sau khi anh vào Nam để tiếp quản trường học. Gặp nhóm
sinh viên chúng tôi anh cười buồn: "Tôi thật ngỡ ngàng không biết phải dạy
các em điều gì nữa?"
...Sau này anh không dạy học mà cùng vợ bán tại một
cửa hàng vải nhỏ. Gặp tôi anh chỉ nói "Một lầm lẫn tai hại cả một thế
hệ"...
44 năm rồi họ vẫn không chiếm được trái tim của người
miền Nam và họ ngược lại mất đi khá nhiều trái tim của người miền Bắc.
(Đào Nguyên Thông)
Trông người lại nghĩ đến ta! Chúc Thanh
Chúc Thanh
«... Có vết thương cả đời còn rướm máu
Có nỗi buồn, mãi mãi vẫn không phai!
- Dư Thị Diễm
Buồn...»
Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng.
«... 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam...» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Họ chiếm hữu đất đai ruộng vườn nhà cửa của người
dân bên thua cuộc bằng cách lấy đầy đủ lý do vô cớ đuổi người người đi vùng
kinh tế mới với ý ác đầy ải không kể tình đồng bào, tình nhân loại, tình Việt
Nam...
Tội ác còn tầy đình vô kể là sự trả thù tàn bạo thâm độc khi chúng đưa lừa rồi lưu đầy lao tù lao động khổ sai cả hàng triệu quân, cán, chính miền Nam cho họ dần mòn chết rục trong rừng sâu nước độc... để chúng rảnh rang có cơ hội phá hỏng tan hoang kỷ cương của xã hội miền Nam.
ng thế, Dương Thu Hương đã khóc và bỏ đi xa vì bà đã chợt nhận ra sự hỗn loạn luân lý đạo đức ở xã hội, ở thế hệ Bắc Kỳ của bà. Có một sự trái ngược về nếp sống về văn hóa văn minh, nhất là về tự do dân chủ giữa hai miền Nam Bắc.
Vâng sau 30-04-1975, đoàn quân Bắc Việt cộng sản thực thi toàn thủ đoạn vơ vét và ăn cướp giữa thanh thiên bạch nhật... tổ chức vượt biên chánh thức để lấy vàng, vơ vét tài sản nhân dân. Sau nửa thế kỷ, chúng còn nẩy sinh ra một bầy đảng viên tham nhũng.
Cứ gọi là vừa đánh trống vừa ăn cướp... hay là vừa ăn cướp vừa la làng cũng y thế... chúng đang vừa tận dụng tham nhũng, chúng vừa hô hào chống tham nhũng!
Cứ bảo là một con sâu làm rầu nồi canh, nhưng bây giờ một nồi canh có đầy sâu, thì làm sao mà chữa, chỉ còn nước mang đổ bỏ... và có lẽ phải đổ thuốc sát trùng vô chỗ canh đổ bỏ đó... mới an toàn cho xã hội loài người.
Nói vào ngay, là người cộng sản Hà Nội, họ đã sai, sai tự ngàn xưa và sai cho đến lúc vào lấn chiếm miền Nam thân yêu của chúng ta. Sai mãi. Ngay khi cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa, thượng tá Bùi Tùng, chính ủy trung đoàn 66, sư đoàn 304 gặp gỡ tổng thống Dương Văn Minh ở dinh Đôc Lập. Ông Bùi Tùng đã có lời nói trịch thượng hách dịch: «các anh không có gì, còn gì nữa đâu mà bàn giao...!» Họ ủi sập cổng dinh Độc Lập hung hăng và côn đồ! Rồi chẳng biết là do các nhà báo ngoại quốc, họ lầm lộn tên họ người Việt Nam, cứ Bùi này rồi Bùi kia... mà kể rằng ông Bùi Tín vào gặp ông Dương Văn Minh và cũng tỏ thái độ Bùi Tùng: «các anh còn gì nữa đâu mà bàn giao?» Rất hung hăng và trịch thượng.
Ông Bùi Tín, sau này ra ngoại quốc, theo một bài viết của ông, thì ông xác nhận là ông có vào dinh Độc Lập và có nói với ông Dương Văn Minh là đại ý cũng như vậy... thì ra, người thắng cuộc, họ kiêu ngạo và ưa nói lời khinh bạc. Họ không nghĩ là họ đã cưỡng chiếm được một miền Nam trù phú, giầu có, đầy tình nghĩa... mà mãi mãi, họ, mỏi tay khuân về Hà Nội không hết của và nhứt là chưa học hết nhân nghĩa, luân lý, nền nếp sống nhân bản của người miền Nam.
Rồi sau nửa thế kỷ, họ còn làm bại hoại gia phong, cơ đồ của tổ tiên chúng ta biết mấy?
Gần đây, Tô Lâm chia lại tỉnh thành làng xã, mà ông ấy cứ biểu là «thu dọn giang sơn».
Trời ơi, giang sơn Việt Nam, tổ tiên chúng ta mấy mươi ngàn năm gầy dựng nên, ông và đảng cộng sản của ông đang làm rối loạn xã hội mà lại bảo là thu dọn thì thiệt là lộng ngôn và u tối!
Mà cả cái đảng cộng sản và mấy mươi con người công sản Việt Nam đó, từ đầu tới cuối, họ u tối và độc ác làm sao!
Họ u tối và nhìn cạn, hay là họ ngu dốt kiểu «ếch ngồi đáy giếng»... có lẽ, vì họ không kịp mở mắt kịp đọc, nhìn hay tìm hiểu xem, cách nay hơn 100 năm, là hơn một thế kỷ, mà cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ đã kết thúc như thế nào và cách hành xử của các tướng tư lệnh Nam quân và Bắc quân của người Mỹ đầy nhân đạo êm đềm và thấm đẫm tình người!
Khi cuộc chiến tương tàn giữa hai miền Nam và Bắc Mỹ kết thúc cách nay hơn một thế kỷ rưởi, là 158 năm, thì đã để lại hơn nửa triệu người thiệt mạng và hao tốn hàng tỷ mỹ kim cho cả hai bên. Sự hận thù còn lại kéo dài cũng hàng trăm năm.
Rồi một ngày trận chiến kết thúc chính thức tại tòa án làng Appomatox thuộc tiểu bang Virginia. Tại đây tướng tư lệnh Robert Lee đã ký giấy đầu hàng Bắc quân do tướng Ulysses Grant chỉ huy, hòa ước ký kết vào ngày 9-4-1865 phòng họp ký kết hòa ước hiện nay là một kỷ niệm thiêng liêng, tầm vóc quốc gia và vẫn được giữ nguyên không thay đổi.
Ngày ký hòa ước, chúa nhựt 9-4-1965 tướng Lee đến điểm hẹn trước, tướng Grant tới sau và hai người bắt tay nhau, tướng Grant hơi lúng túng vì tướng Lee là bạn học xưa và cũng là đối thủ của ông trong trận chiến. Tướng Lee vừa viết thư đầu hàng và tướng Grant tỏ ra lúng túng vì ông không muốn làm mất thể diện của người bạn mà ông vẫn kính mến lúc nào.
Tướng Grant tỏ ra rất ngập ngừng do dự ông đắn đo lời nói, sợ làm tổn thương sự đầu hàng của Nam quân. Sau này ông kể rằng lúc đó tôi không hiểu tướng Lee có cảm nghĩ gì, riêng phần tôi tôi buồn và chán nản, tôi thương vô cùng những người lính chiến đã chiến đấu gian khổ và dũng cảm cho lý tưởng của họ... dù là trước đó không lâu, tôi vui mừng nhận được văn bản đầu hàng của Nam quân ông cũng lý luận là trong cuộc nội chiến tương tàn thì cả hai phe đều thua thiệt và có gì mà vui mừng đâu!
Dĩ nhiên là cuộc chiến tranh nào, khốc liệt tới đâu rồi cũng phải kết thúc.
Tướng Lee, trước thái độ ôn hòa của Bắc quân, ông đã hỏi xem điều kiện ra sao để phe ông đầu hàng?
Tướng Grant tỏ ra cao thượng khi ông nói rất vắn tắt: «Nam quân trao lại võ khí đạn dược lớn, trọng yếu cho Bắc quân. Riêng các sĩ quan và tất cả quân nhân được phép giữ lại bên mình súng cá nhân phòng thân, cùng tất cả các phương tiện di chuyển như xe kéo, lừa, ngựa để có thể trở về nguyên quán làm ăn và xây dựng đời sống mới cùng là giúp gia đình ổn định.
Tướng Lee tỏ ra ngưỡng mộ và hết sức biết ơn khi không một sĩ quan hay binh lính nào của ông bị bắt giữ hay cầm tù... thêm nữa khi Nam quân tỏ ra khó khăn vì gần hết hay đã hết lương thực thì tướng Grant ra lệnh mở kho thặng dư ra chia phát cho người anh em đang cần.
Ba ngày sau, 12-4, là ngày giao nộp vũ khí, thì cả hai tướng đều vắng mặt, họ bảo rằng họ bận trở về quê xa thăm gia đình. Họ nại cớ.
Tướng Yoshua Chamberlain thay thế tướng Grant nhận lãnh sự đầu hàng với đầy đủ quân trang quân dụng. Tướng Chamberlain cũng kể lại trong hồi ký của ông. The passy of armies rằng: về phần chúng tôi, không một ai vui mừng hay bàn tán, tất cả là một sự yên lặng vì cảm nhận được rằng qua cuộc nội chiến tương tàn, không ai thắng cả, hai bên đều thua thiệt, nếu không muốn nói là cả hai bên đều thua... đều thất bại!
Bàn ghế vật dụng trong tòa nhà ký kết hòa bình ở tòa án làng Appomatox được giữ nguyên như một kỷ vật của tình thương, của sự hòa ái; sau này tất cả và bàn giấy mà tướng Nam quân đã ký giấy đầu hàng đều được chuyển về viện bảo tàng Smith Sonian trưng bầy. Tướng lãnh đạo Bắc quân rời khỏi bàn đàm phán, ông tuyên bố ngay tức thì rằng trước đây Nam quân là ngụy quân ngụy quyền và giờ chiến tranh đã chấm dứt, tất cả họ đã trở thành đồng bào thân yêu của chúng ta!
Những người dân Mỹ đã biết đặt sự hàn gắn vết thương chiến tranh sau một cuộc nội chiến tương tàn ròng rã nồi da xáo thịt, cũng là nhờ phần lớn tấm lòng khoan hòa, độ lượng và cử chỉ thánh thiện, nhân ái của các vị tướng lãnh đạo... họ gạt bỏ vũ khí và chấp nhận tình người, tình đồng bào, một cách chân thành đúng nghĩa, không lừa lọc mưu mô.
Từ đó, họ kết thúc thù hận, xây dựng lại ưu tú xã hội, kinh tế, chính trị v.v...
Ở Việt Nam, sau 30-4-1975 thì trái ngược, đầy lừa lọc và thù hằn, đầy mưu mô xảo trá để báo thù và dồn dân chúng vào cùng đường hết chỗ sống đến phải liều mạng trốn chạy...
Chính sách hà khắc của nhà nước cộng sản đã xua
đuổi chúng ta trốn chạy bằng đủ cách đường bộ, đường biển, ra đi tìm sự sống
mong manh trong tuyệt vọng:
Người buông xuôi về nơi đáy nước
Người có mộng một nấm mộ xanh?
Lời kinh đêm của Việt Dzũng
Có bao giờ cộng sản Việt Nam họ tự hỏi: tại sao, tại sao dân phải trốn chạy như thế không? Không, không... họ uốn lưỡi gọi chúng ta là «khúc ruột ngoài ngàn dặm...» có lúc họ không ngớt ngon giọng kêu gọi «hòa hợp hòa giải» dân tộc!
Nhưng làm sao mà hòa giải hòa hợp với những con người đã mang trong tâm trí họ tính chất ròng cộng sản.
50 năm sau, hay hai lần 50 năm, sự ngăn cách giữa bên thắng cuộc và những người di tản, phải sống ly hương, càng ngày càng xa nhau thêm.
Thật đáng buồn, buồn thấm thía vì có lẽ chẳng bao giờ, hai bờ đến gần nhau được!
Ký ức tháng tư 2026
Paris tháng tư vào mùa xuân
Chúc Thanh xin tri ơn những ý kiến
của bác Tích Cốc Ngô Văn Phát qua bài «lằn ranh
đỏ».
Chúc Thanh
TẠI SAO TRUYTỀN THÔNG MỸ THIÊN TẢ?
Vũ Linh
Truyền thông dòng chính
-mainstream media- Mỹ chưa bao giờ có thái độ phe đảng một chiều công khai và
lố bịch như hiện nay. Ai cũng biết khối truyền thông này chống Trump một
cách tuyệt đối, chống bất cứ chuyện gì Trump làm hay không làm, nói hay không
nói, một cách hoàn toàn vô điều kiện, không rào đón gì hết. Nhất cử nhất
động của Trump đều bị chống, bị chửi, bị xuyên tạc, bị bóp méo, bị bôi bác.
Tại sao
lại có hiện tượng quái lạ này?
Trước hết, ta nhìn
qua tình trạng hiện hữu, bằng cách nhìn vào một trường hợp cụ thể nhất là báo
được gọi là 'chị cả' của giới truyền thông loa phường Mỹ: báo New York Times.
Câu chuyện New York
Times
NYT trên nguyên
tắc là cơ quan thông tin có bình luận luôn, nghĩa là có phần tin tức trên
nguyên tắc phải là trung thực, khách quan, và cả phần bình luận có thể chủ quan
hơn. Trên thực tế hiện hữu, làn ranh thông tin và bình luận dường như đã bị lu
mờ rất nhiều trên NYT nói riêng và trên cả khối truyền thông dòng chính (TTDC)
nói chung. Đại Học Harvard đã xác nhận chuyện này khi họ nghiên cứu thấy TTDC
Mỹ có khuynh hướng chống TT Trump trong hơn 90% bình
luận của họ, và cả trong các bản tin luôn. Tin bất lợi cho Trump thì thổi
phồng, thêm mắm thêm muối, tin có lợi thì ém nhẹm không đăng.
Công bằng mà
nói, trong chính trị, khó có thể có chuyện khách quan, công tâm 100%. Biết vậy,
nhưng khi có thái độ chống Trump trong hơn 90% bản tin thì quả là đã đi quá xa,
mà lại còn ngoan cố vỗ ngực cho mình trung thực thì chẳng khác gì tát vào mặt
dân ngu khu đen. Ấy vậy mà truyền thông tỵ nạn và không ít cụ tị nạn vẫn coi
truyền thông Mỹ như... Kinh Thánh mẫu mực của truyền thông trung thực và công
tâm.
Tiến trình rẽ
trái của NYT thật ra không phải là chuyện xẩy ra một sớm một chiều. NYT đã đi
từng bước, từ khách quan thông tin của thế kỷ trước tới cách đây vài chục năm;
bây giờ hiên ngang chuyển qua tiếng nói của khối thiên tả gọi là 'liberal' hay
'progressist', trở thành một thứ lực lượng xung kích của khối thiên tả cực
đoan, chống TT Trump tới cùng, cũng chống luôn mọi tư tưởng bảo thủ.
Tại sao có hiện tượng
chuyển hướng mạnh như vậy. Ta hãy xem qua nhận định của James Bennet và Jill
Abramson.
Ông James
Bennet: là một cựu chủ biên trang quan điểm -editor in chief of editorial
page- của NYT từ 2016 tới 2020. Năm 2023, Bennet viết bài phân tích sự chuyển
hướng của NYT. Theo ông ta, NYT:
- Từ khuynh
hướng cấp tiến -liberal- đã trở thành hết cấp tiến -illiberal-. Hiểu theo
ý của Bennet, 'liberal' có nghĩa là phóng khoáng, cởi mở, tuy thiên
tả nhưng chấp nhận đối thoại với quan điểm khác; và rồi NYT đã biến thái,
khoá cửa không cho bất cứ quan điểm nào khác chen vào, trở thành một
chiều, độc đoán tuyệt đối. Học sách Hitler và Mao. Các quan điểm của các
nhà báo và biên tập viên bảo thủ ngay trong NYT bị kiểm duyệt, phần lớn
không cho đăng luôn.
- Bennet đưa
kinh nghiệm bản thân: bị công kích và các xếp xài xể mạnh khi ông chấp
nhận đăng bài nhận định 'trái chiều' của một thượng nghị sĩ bảo thủ CH Tom
Cotton trên NYT, khiến ông Bennet bực mình từ chức ngay, rời khỏi NYT.
- Bennet cho
rằng NYT đã bị 'đảo chánh' từ bên trong khi đám nhà báo trẻ cấp tiến nặng
khuynh đảo và có thể nói chiếm hẳn báo NYT, chủ trương NYT phải là tiếng
nói của cấp tiến văn minh tiến bộ, chủ trương 'công bằng xã hội' theo phe
tả.
Bà Jill
Abramson: là tổng chủ bút -executive editor- của NYT từ 2011 tới 2014. Sau
khi về hưu, năm 2019, bà Abramson viết sách về NYT có tên là Merchants of Truth
- Lái Buôn Sự Thật. Theo bà, NYT:
- Có khuynh
hướng chống Trump triệt để, mất hết công tâm trung thực, đưa đến việc NYT
mất luôn uy tín.
- Việc chuyển
hướng bị thúc đẩy bởi hai yếu tố then chốt: sự xâm chiếm tòa báo bởi đám
nhà báo trẻ cấp tiến cực đoan nhất, cùng ý kiến với ông Bennet, và báo
hoàn toàn bị chi phối bởi nhu cầu tài chánh, cần tiền quảng cáo nhắm vào
khối độc giả trí thức thiên tả của thành phố New York.
- Những bài
viết cũng như cách đặt tựa lớn cho các bản tin đã mất tính trung thực để
phản ảnh quan điểm cấp tiến chống Trump tuyệt đối, tới cùng của báo.
Theo những
vị trên, NYT chuyển hướng qua phiá tả từ những năm 2016-2017 khi ông Trump mới
xuất hiện, công khai hô hào bảo thủ chống cấp tiến, chống đảng DC và chống bà
Hillary.
Sự thật là NYT đã là
tiếng nói của cánh tả ngay từ trước khi Trump xuất hiện rất lâu. Ngay từ thời
miền Nam ta còn đang trực diện với cuộc chiến sinh tử chống xâm lăng của CSBV
với hậu thuẫn của khối CS quốc tế và dĩ nhiên của khối truyền thông thiên tả
Mỹ, trong đó có NYT. Chính xác hơn, NYT chính là báo đi tiên phong trong việc
chống lại sự tham chiến cứu Nam VN của chính phủ Johnson, chuyên môn tung những
tin hết sức bất lợi cho QLVNCH, công khai ca tụng tinh thần yêu nước của VC, và
luôn luôn tiên đoán VNCH sẽ sụp đổ hoàn toàn, Mỹ thảm bại và VC toàn thắng. Y
chang như đám vẹt đang tung hô 'chiến thắng ngọt ngào của Iran trên đế quốc
Mỹ' hiện nay.
Nguyên nhân chuyển
hướng qua cánh tả
Theo nhiều
nghiên cứu khác, đã có vài lý do quan trọng cho sự chuyển hướng trên, nhưng
trên căn bản, có lẽ cuộc chiến tại Nam VN đã là yếu tố quan trọng nhất đưa đến
việc chuyển hướng mạnh qua phía tả của truyền thông Mỹ.
A. Ý thức hệ
Ngay từ những
thập niên 1960 trong thời chiến tranh VN, ngành báo chí Mỹ đã bị 'xâm chiếm'
bởi những thế hệ nhà báo mới, rất trẻ, phần lớn tốt nghiệp, nghĩa là đã được
tẩy não kỹ từ thời mẫu giáo tới đại học, bởi hệ thống giáo dục cấp tiến Mỹ,
không có một ly kinh nghiệm sống, trong khi vẫn bị mê hoặc bởi những lý tưởng
cao đẹp viễn vông của xã nghĩa, với những khái niệm xa vời như công bằng xã
hội, nhân bản nhân ái, bảo vệ dân nghèo chống áp bức, bóc lột của nhà giàu,...
Phần lớn các nhà
báo trẻ đó tốt nghiệp đại học trong các môn nhân văn, chính trị học, xã hội
học, nên ngay từ đó đã có khuynh hướng thiên tả khi ý thức hệ tả phái thống trị
các môn học này trong các đại học Mỹ và khắp thế giới [Thành thật khai báo:
kẻ này tốt nghiệp trường Chính Trị Học -Science Po- (thuộc Đại Học Lausanne),
là trường nổi tiếng thiên tả nhất của Thụy Sỹ, do một triết gia xã nghĩa Ý của
thế kỷ 19 -Vilfredo Pareto- thành lập năm 1901; môn học chính của kẻ này là 'Kinh
Tế Chỉ Huy', économie dirigiste; với hậu quả 'trái chiều' là càng học càng thấy
kinh tế xã nghĩa vô thực; không khác gì đám tù 'ngụy quân ngụy quyền' càng học
cải tạo VC càng thù ghét VC].
B. Trách nhiệm mới - Tiêu
chuẩn đạo đức nghề nghiệp mới
Theo quan điểm cổ
điển, truyền thông cần phải không phe phái, tuyệt đối trung lập, không theo phe
cánh nào. Chỉ cung cấp thông tin trung thực để người dân hiểu rõ vấn đề rồi họ
tự lấy quyết định cho chính mình. Thế nhưng quan điểm về vai trò của truyền
thông đã thay đổi hẳn. Ngày nay, dưới ảnh hưởng của các nhà báo trẻ, vai trò
của truyền không còn là thông tin thuần túy, mà còn có hai trách nhiệm lớn hơn
nữa:
- trách nhiệm
phân tích: các nhà báo trẻ, với sự hiểu biết thu thập từ đại học, tự cho
có trách nhiệm phải phân tích, giải thích những diễn biến, thậm chí đi xa
hơn, còn phải tiên đoán tương lai luôn, để cảnh giác quần chúng.
- trách nhiệm
hướng dẫn dư luận, 'tạo thời thế', chứ không thể thụ động khoanh tay ngồi
nhìn chuyện xẩy ra rồi báo cáo trung thực, vô thưởng vô phạt.
Từ những trách nhiệm mới trên, truyền thông bây giờ đã vứt hết vào thùng
rác những tiêu chuẩn nền tảng của ngành truyền thông cổ điển, như trung thực
không tung phếch-niu, công bằng không phe cánh, độc lập không là cánh tay nối
dài của bất cứ thế lực chính trị hay tài chánh nào,... Vì nhu cầu hướng dẫn dư
luận, các nhà báo phe đảng hiện nay sẵn sàng hy sinh tất cả những tiêu chuẩn về
đạo đức nghề nghiệp. Với họ, trách nhiệm lèo lái dư luân bây giờ quan trọng hơn
hết. Truyền thông đã trở thành một công cụ chính trị, có trách nhiệm phát huy
một ý thức hệ mà đám nhà báo tin tưởng.
Tính năng động đó đã
khiến các nhà báo trẻ làm cuộc cách mạng truyền thông ngay từ khi còn chiến
tranh VN. Đám nhà báo trẻ quyết tâm muốn chấm dứt việc Mỹ tham chiến giúp Nam
VN chống xâm lăng của CSBV nên cố gắng xoay chuyển dư luận quần chúng, luôn
tung tin bất lợi cho miền Nam sau khi thổi phồng, phóng đại lên mây, lên án
miền Nam cũng như việc Mỹ tham chiến, trong khi nức nở ca tụng VC.
C. Mất niềm tin
Công bằng mà nói, đám
nhà báo trẻ trong chiến tranh VN, đã thấy tận mắt, nghe tận tai những chuyện
không như thông tin chính thức của cả chính phủ Mỹ lẫn chính phủ Nam VN.
Điển hình nhất: trong
khi họ nghe tướng Westmoreland báo cáo những tin chiến thắng đầy lạc quan, 'ánh
sáng cuối đường hầm', thì bất ngờ xẩy ra trận Mậu Thân khi VC đã có thể tấn
công -tuy mang tính cảm tử thí mạng cùi- cùng lúc cả trăm thị xã và căn cứ quân
sự VNCH. Chẳng những VC vẫn còn rất 'khỏe', mà truyền thông còn đặt câu hỏi làm
sao một chiến dịch quy mô như vậy mà cả Mỹ lẫn VNCH đều không hay biết, có phải
dân chúng miền Nam đã ngấm ngầm giúp giữ bí mật cho VC không? Họ không cần biết
những giả thuyết kiểu như cả Mỹ lẫn VNCH đều biết trước nhưng cố tình để VC ra
mặt để có thể truy diệt tận cùng vì họ cho đó chỉ là ngụy biện sau khi bị đánh
chí tử.
Dù sao thì những 'mâu
thuẫn' giữa những thông báo chính thức với sự thật trên chiến trường, đã khiến
các nhà báo trẻ lý tưởng đó mất niềm tin vào lãnh đạo Mỹ, từ TT Johnson tới
tướng Westmoreland. Với lãnh đạo VNCH, báo giới Mỹ chưa bao giờ coi ra gì, đừng
nói tới chuyện tin tưởng hay không.
D. Tài chánh
Cuộc sống thực
tế trong thành đồng tư bản Mỹ ngày càng bị đồng tiền chi phối. Truyền thông, từ
báo viết tới tivi, radio, ngày càng lệ thuộc vào tiền quảng cáo họ nhận được.
Không quảng cáo, tất cả sẽ chết ngắc. Ở đây phải nói cho rõ, tuy số người mua
báo, theo dõi tivi không còn ý nghĩa trực tiếp gì nữa, trên thực tế, số người
đọc/nghe vẫn còn có tính quyết định trong việc quảng cáo. Không khán giả, không
độc giả thì dĩ nhiên không còn quảng cáo, mà không quảng cáo thì truyền thông
chết.
Do đó, quảng cáo
là máu nuôi sống truyền thông. Mà muốn có quảng cáo, phải thu hút được người
đọc/nghe. Mà theo nghiên cứu của truyền thông, những người đọc và nghe truyền
thông có hai loại chính ở Mỹ: khối dân tỉnh thành lớn và khối dân tỉnh nhỏ
hay thôn quê.
- Trong khối
tỉnh thành lớn, phần đông độc giả/khán giả thuộc thành phần trí thức có
khuynh hướng thiên tả, do đó truyền thông các tỉnh lớn cũng bắt buộc phải
theo khuynh hướng thiên tả. Tư tưởng thiên tả là hậu quả của cái mặc cảm
lớn của giới trí thức: trí thức phải thiên tả mới là trí thức có hiểu
biết. Ngay cả mấy ông bác sĩ, luật sư tị nạn, cũng phải biểu diễn tính trí
thức học cao hiểu rộng bằng thái độ thiên tả, chống bảo thủ, chống Trump.
Giải thích việc tại sao các báo của các thành phố lớn như New York,
Washington DC, San Francisco, Los Angeles,... đều có khuynh hướng thiên
tả. Các thành phố lớn cũng là nơi tập trung của rất nhiều dân nghèo, ít
học, mà rồi đám này cũng thiên tả luôn vì sống nhờ trợ cấp.
- Trái lại,
trong các tỉnh nhỏ hay thôn quê, phần đông độc giả/ khán giả có khuynh
hướng bảo thủ hơn, nên truyền thông tại những nơi này cũng có khuynh hướng
bảo thủ hơn. Giải thích việc truyền thông địa phương -các báo nhỏ của tỉnh
nhỏ- thường có khuynh hướng bảo thủ.
Trong vấn đề tài
chánh tiền bạc, có một mâu thuẫn bề ngoài có vẻ khá lạ lùng: hầu hết các báo
lớn và đài tivi đều là sở hữu của các đại tài phiệt, như đại tỷ phú Jeff Bezos
là chủ báo Washington Post, hay đại gia tộc tỷ phú Sulzberger là chủ New York
Times, hay CNN thuộc sở hữu của đại tập đoàn Walt Disney sau khi được tỷ phú
Ted Turner thành lập,...
Câu hỏi là tại sao
các nhà đại tư bản tỷ phú lại có thể sở hữu những cơ quan ngôn luận suốt ngày
công kích sỉ vả chính họ. Câu trả lời rất giản dị là các tỷ phú không bao giờ
cần để ý hay biết quan điểm của các báo hay đài tivi, radio họ sở hữu. Họ chỉ
nhìn vào những con số kết quả tài chánh: bao nhiêu tiền thu vào, bao nhiêu tiền
chi ra, lời lỗ tiền bạc cuối cùng ra sao, hết chuyện. NYT hay WaPo hay CNN,...
đối với họ chỉ là những phương tiện kinh doanh thôi. Quản trị giỏi, làm ra tiền
cho họ là tốt, quản trị dở để họ mất tiền là tồi, cần thay đổi, hết chuyện,
chẳng có chuyện quan điểm thiên tả thiên hữu gì ráo, mà chỉ là thiên... tiền.
Ngoài ra, các nhà
quản trị các cơ quan ngôn luận cũng nhận thấy rõ vài kinh nghiệm sống: tin
xấu thu hút hiếu kỳ của độc giả nhiều hơn tin tốt, do đó các cơ quan ngôn luận
thường chú tâm rồi phóng đại ra những tin xấu, chẳng hạn như trong chiến tranh
VN, tin về số lính Mỹ bị chết và bị thương được thổi phồng lên vì hấp dẫn hơn
xa tin VC bị loại, hình ảnh lính Mỹ máu me bê bết, hình tướng Loan bắn tù
VC,... ăn tiền hơn xa tất cả mọi hình ảnh lạc quan khác kiểu như TT Diệm khánh
thành Khu Trù Mật nào đó.
Với Trump
Thái độ chống Trump
có vẻ quyết liệt hơn xa tất cả những bất mãn, mất niềm tin hay chống đối của
truyền thông loa phường đối với các chính quyền trước.
Vấn đề này, DĐTC đã
bàn qua, qua bài # 426: TRUMP MANG LẠI THÙ GHÉT CHƯA TỪNG THẤY
(https://diendantraichieu.blogspot.com/2026/02/bai-426-trump-mang-lai-thu-ghet-chua.html).
Truyền thông
trước đây được tôn vinh như là quyền mới, gọi là đệ tứ quyền, không dính dáng
đến chính trị phe phái, có thể nói là 'phi chính trị', chỉ có một nhiệm vụ là
thông tin sự thật cho dân biết, để các vị dân cử chịu trách nhiệm trước dân, để
người dân thi hành nhiệm vụ công dân, bầu bán cho người mình tin tưởng và đồng
quan điểm.
Nhưng ngày nay,
khi mà hơn 90% các bản tin và bình luận của truyền thông đều có mục đích đánh
TT Trump, thì vai trò thông tin trung thực và vô tư đã biến mất hết rồi. Truyền
thông hiện nay chỉ còn là cánh tay nối dài của đảng DC.
Việc tung những
tin xấu về nước Mỹ chưa bao giờ 'phát huy' mạnh như hiện nay dưới thời Trump.
Báo chí tràn nhập những tin về tham nhũng, bất công xã hội,... Đủ chuyện bất
lợi, phản ảnh thất bại toàn diện của Trump. Điều đáng nói là tất cả đám truyền
thông không hề e lệ hay chối bỏ thế đứng thiên tả, thù địch với Trump hiển
nhiên của họ.
Trong những vụ
đả kích TT Trump, hiển nhiên là truyền thông đã bị sự thù ghét TT Trump ám ảnh
đến mù quáng, mất hết lý trí. Tất cả chỉ là chống, chống và chống. Hết
chuyện.
Thật ra, không phải
truyền thông chỉ lo chống vài chính sách của TT Trump không, mà họ cố tình mô
tả ông Trump từ cá nhân ông tới tất cả chính sách, biện pháp, quyết định của
ông đều tệ hại vô biên, bất kể về chuyện gì. Không có được bất cứ một điểm nào
hay ho tốt đẹp gì. Thế thì họ làm sao giải thích việc ông Trump đã 2 lần được
dân Mỹ bầu làm TT. Đa số dân Mỹ ngu tới vậy sao?
Đã vậy, ông thần
Trump lại còn dám cả gan công kích ngược lại truyền thông như chưa từng thấy.
Lại còn dám kiện truyền thông tới cả tỷ đô tiền bồi thường vì xúc phạm ông, vì
tung tin vịt, tin phịa,... Việc truyền thông đã phải bồi thường ông Trump tổng
cộng cho tới nay tới hơn 80 triệu đô đã là chuyện hết sức mất mặt cho truyền
thông, không thể bỏ qua được. Mà đám vẹt tị nạn trong truyền thông Việt ngữ
không một tên nào dám hó hé nhắc tới.
Truyền thông có bản
tính tự cao tự đại cực lớn, với đám nhà báo luôn luôn tự cho mình đúng, chỉ
trích không bao giờ sai vì đó là tiếng nói của trí thức, của hiểu biết, của
chín chắn vô tư, của những người có trách nhiệm hướng dẫn đại chúng, trong khi
thực tế đó là đám 'nhà báo nói láo ăn tiền' hoàn toàn vô trách nhiệm. Thế nhưng
Trump hiển nhiên coi đám nhà báo như đám ruồi nhặng chuyên nói láo vớ vẩn. Các
tổng thống tiền nhiệm đã từng bị đánh tàn bạo, nhất là các TT CH như Nixon,
Bush con,... nhưng chưa có một TT nào dám ngang nhiên trả đòn, đánh thẳng
truyền thông mạnh bạo như Trump, lại còm dám kiện truyền thông nữa. Khiến
truyền thông ngày càng oán giận Trump hơn. Đám truyền thông bây giờ tích
cực chống Mỹ, chống Trump một cách ngớ ngẩn nhất, giúp kẻ thù của Trump, của
Mỹ, thật xứng đáng với câu mô tả 'useful idiots' (Có người cũng gọi đám vẹt là
'useful idiots', nhưng trên thực tế, đám vẹt chỉ là idiots, chẳng có gì là
useful vì những chửi bới vô học của chúng chẳng giúp gì cho đám cuồng chống
Trump).
Nói đi cũng phải nói
lại, không phải tất cả các cơ quan truyền thông lớn, có tầm vóc quốc gia đều
thiên tả hết. Cũng có những cơ quan ngôn luận thiên hữu, hướng về phiá bảo thủ,
có khuynh hướng ủng hộ ông Trump, như Fox News hay Wall Street Journal. Quan
điểm tương đối thân Trump của Fox đã giảm mạnh sau khi ông bố quá lớn tuổi
Rupert Murdoch của Fox chuyển giao quyền điều hành Fox cho ông con Lachlan
Murdoch, ít thiện cảm với Trump hơn.
Riêng báo The
Wall Street Journal là trường hợp khá đặc biệt. Trước đây có khuynh hướng ủng
hộ Trump, nhưng sau khi TT Trump tung ra chính sách gọi là thuế quan tương ứng,
đánh thuế quan trên hàng của cả thế giới, thì WSJ công khai công kích TT Trump
về chính sách này. WSJ là tiếng nói của khối tân bảo thủ, chủ trương hạn chế
thuế quan càng nhiều càng tốt vì nguyên tắc tự do mậu dịch tuyệt đối, không
hàng rào thuế quan nào hết.
Cuối cùng, nhìn
lại cho kỹ thì ta thấy dân Mỹ có trình độ dân trí cao hơn truyền thông nghĩ.
Bất chấp tất cả những đấm đá và xuyên tạc liên tục từ cả chục năm qua, nhất là
trong các mùa bầu cử, kể cả những 'thăm dò' cuội để thổi phồng mấy bà thần
tượng cấp tiến Hillary hay Kamala, cuối cùng ông Trump vẫn thắng.
Vũ Linh