Wednesday, 6 May 2026

LỊCH SỬ BẠO LỰC CHÍNH TRƯỜNG MỸ

Bạo lực chính trị trong chính trường Mỹ thế kỷ XXI xảy ra khi chiến thắng bất ngờ của ứng cử viên Donald Trump hồi 2016 khiến giấc mộng “Madam President” của ứng cử viên Hillary Clinton và đảng của bà tan thành mây khói trong hụt hẫng và ê chề. Bạo lực ấy không bộc phát bởi bản thân vụ thất cử. Nó diễn tiến lâu đời suốt chiều dài lịch sử Mỹ; từ khi đảng anti-slavery và pro-Christianity của cố TT Abraham Lincohn ra đời để chống lại chính sách pro-slavery và pro-socialism, pro-marxism của đảng đương quyền đầy tham vọng cá nhân và bè phái tham nhũng; núp danh nghĩa chính cái tên gọi mỵ dân mà nó tự xưng.

 1/ Vụ hành hung GOP Sen Charles Sumner: Chiều 22/5/1856, GOP Sen. Charles Sumner đang cắm cúi ký tên lên các bản sao diễn văn của ông tại phòng họp US Senate; không hề hay biết Preston Brooks (US Dem Rep. – S. Carolina) đã lặng lẽ tiến công từ sau lưng. Brooks nâng cao cây gậy đầu dát vàng lên rồi giáng liên tục xuống đầu Sumner cho đến khi chiếc gậy vỡ nát khiến Sumner nằm bất động trong vũng máu. Sumner bị thương nặng đến mức phải mất 3 năm mới đủ hồi phục để trở lại US Senate. Nạn nhân mang di chứng chấn thương sọ não suốt đời. Vụ hành hung đó không phải là hành động bộc phát của một cá thể mất kiểm soát. Nó là sản phẩm có tính toán của một mưu đồ chính trị lấy bạo lực làm công cụ bảo vệ quyền lợi phe phái. Mưu đồ ấy của đảng DC kéo dài đến tận thế kỷ XXI vẫn chưa chấm dứt.

 Được biết, GOP Senator Charles Sumner của Massachusetts có lập trường bãi bỏ chế độ nô lệ kiên quyết. Hai ngày trước khi bị hành hung, ông đã đọc bài diễn văn dài 5 giờ mang tên “Crimes vs Kansas”; trong đó, ông chỉ trích gay gắt các Dem Senators ủng hộ chế độ nô lệ, đặc biệt là Andrew Butler (bà con của Brooks). Sumner dùng ngôn ngữ ẩn dụ sắc bén so sánh Butler với Don Quixote đang “ôm ấp một người tình xấu xí” (tức chế độ nô lệ). Brooks không chọn cách phản bác bằng lập luận vì đuối lý. Ông ta cũng không thách đấu kiếm tay đôi theo phong cách quý tộc miền Nam. Thay vào đó, sau khi hội ý với Dân biểu Laurence Keitt (đồng viện Dân Chủ), Brooks bảo rằng Sen. Sumner không đáng được đối xử như một “gentleman” mà chỉ đáng bị đòn nhục như một kẻ hạ đẳng. Keitt và một đồng phạm khác đi theo Brooks vào phòng họp; chặn lối để không ai vào can ngăn được trong khi Brooks ra đòn.

 

Sau vụ đánh lén hèn hạ, Brooks chỉ bị phạt 300 USD (# 10.000 USD ngày nay) mà không hề bị tù một ngày nào. Khi Hạ viện bỏ phiếu trục xuất, phe đảng Dân Chủ bảo vệ Brooks đủ để ngăn đa số hai phần ba cần thiết. Brooks tự từ chức rồi lập tức được cử tri ủng hộ chế độ nô lệ tái bầu trong cuộc bầu cử đặc biệt. Các tiểu bang pro-Dems miền Nam đã gửi Brooks nhiều cây gậy mới làm quà; có chiếc thậm chí còn khắc chữ “very good job”! Điểm đáng chú ý không phải là hành vi bạo lực hèn mạt của một cá thể, mà là phản ứng tập thể của đảng Dân Chủ hồi đó. Chính giới Miền Nam pro-Dems đã tôn vinh Brooks như một “anh hùng”; tựa như họ đã tôn vinh tội phạm Georges Floyd ở thế kỷ 21 sau này; chỉ khác là không quỳ gối trước quan tài vì hung thủ không chết! Các Dem US Senators hồi đó thậm chí còn đeo nhẫn làm từ mảnh gậy vỡ để biểu hiện tinh thần “đoàn kết một lòng”. Báo Richmond Enquirer viết rằng “những kẻ bãi nô thô lỗ trong US Senate cần phải bị đánh cho khuất phục”! Bạo lực đã không bị lên án mà còn được hợp pháp hóa, biểu dương và được biến thành bản sắc chính trị của đảng. Sử gia William Gienapp đã kết luận rằng vụ hành hung Sumner là sự kiện then chốt giúp GOP trẻ trung - vốn được lập hồi 1854 chỉ hai năm trước đó - chuyển mình thành một đảng chính trị có thực lực và chính nghĩa. Bởi vì cử tri phương Bắc nhìn thấy trong vụ này mặt nạ của phe pro-slavery đã rớt: Họ sẵn sàng dùng “bạo lực đánh dưới rốn” để bịt miệng đối thủ ngay giữa cơ quan lập pháp cao nhất nước Mỹ.

2/ Vụ ám sát TT Lincohn: Chín năm sau vụ Sumner, bạo lực chính trị không còn dừng ở mức bạo lực hành hung đánh lén. Nó leo thang thành ám sát tổng thống: Tối 14/4/1865, John Wilkes Booth (diễn viên nổi tiếng và là kẻ ủng hộ nhiệt thành Liên minh pro-slavery Miền Nam) đã lẻn vào hậu trường Ford Theater, nơi TT Lincoln đang mải xem vở opera “Our American Cousin”, rồi bắn một viên đạn vào ót vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ. TT Lincoln qua đời sáng hôm sau 15/4/1865. Abraham Lincoln, vị tổng thống GOP đầu tiên, người đã giải phóng hàng triệu nô lệ da đen, người đã chiến thắng nội chiến Nam-Bắc để bảo toàn CQ Liên Bang, bị sát hại bởi một kẻ mà toàn bộ niềm tin chính trị đều nằm gọn trong quỹ đạo tư tưởng pro-slavery của đảng Dân Chủ lãnh chúa miền Nam thời đó. Đây là hậu quả của một chính sách lấy bạo lực là phương tiện cứu cánh để bảo lưu quyền lực chính trị kể từ vụ Sumner.

 Thuở thiếu thời, Booth từng hoạt động với đảng “Know-Nothing”, một đảng bài ngoại. Tuy nhiên, toàn bộ hệ tư tưởng chính trị của Booth (ủng hộ chế độ nô lệ, thù ghét Lincoln, coi người da đen là hạ đẳng, tôn sùng lợi quyền thống trị Miền Nam) hoàn toàn trùng khớp với nền tảng tư tưởng pro-slavery của Đảng Dân Chủ thời đó. Booth tin rằng Lincoln đang “phá hoại” Hiến pháp và diệt nền thống trị Miền Nam. Hắn hành động không chỉ vì thù cá nhân mà vì một tầm nhìn chính trị phi dân chủ và phi đạo đức: Cứu vãn liên minh pro-slavery Miền Nam bằng cách ngắt đầu chính phủ liên bang. Booth la lớn “Sic semper tyrannis”! (số phận luôn dành cho bạo chúa là thế) rồi nhảy xuống sân khấu và tẩu thoát. Khẩu hiệu đó không phải lời nói ngẫu hứng. Nó là tuyên ngôn của một hệ tư tưởng coi việc giết hại đối thủ chính trị như là hành động “anh hùng”. Các cuộc biểu tình ở thế kỷ 21 sau này phải lấy khẩu hiệu tắt “No King” vì “tyrant” Trump chỉ bị ám sát hụt; dù nhiều lần. Ai tổ chức thỉ kẻ đó là đồng chí của tiền bối Booth chớ còn ai “trồng khoai đất này”!?

 3/ Vụ thành lập Ku-Klux-Klan: Nếu vụ Sumner là bạo lực cá thể và vụ Lincoln là ám sát chính trị có tổ chức, thì Ku Klux Klan (gọi tắt là KKK) là bước tiến tiếp theo của đảng con lừa: Bạo lực có hệ thống, có tổ chức, có quy mô lớn. KKK được thành lập hôm 24/12/1865 tại Pulaski, Tennessee bởi 6 cựu sĩ quan quân đội Liên minh Miền Nam như Đại úy John C. Lester, các Th.Tá James R. Crowe, John D. Kennedy, Calvin Jones, Richard R. Reed và Frank O. McCord. Ban đầu được mô tả như một “Social Club”, tổ chức này nhanh chóng biến thành một bộ máy khủng bố có mục đích rõ ràng: Đè bẹp quyền lực chính trị của người da đen và GOP tại miền Nam trong thời kỳ “Tái Thiết” sau nội chiến. KKK chủ trương kỳ thị chủng tộc da đen, chống Jews. KKK thời 1866 gồm 40 chi nhánh không có trung ương; hoạt động mạnh ở miền nam và trung tây nước Mỹ. Mặc dù CQLB đã liệt kê KKK là tổ chức khủng bố từ 1871, KKK vẫn phát triển mạnh với khoảng 6 triệu hội viên hồi đầu TK20. Con số này giảm còn khoảng 6,000 khi thế kỷ 21 bắt đầu.

 Mối liên hệ giữa KKK và đảng Dân Chủ thời kỳ ấy là không thể phủ nhận tùy bối cảnh. KKK không phải là một “chi bộ” chính thức” của đảng Dân Chủ. Nhưng trong thực tế, nó hoạt động như biệt đội vũ trang của các chính trị gia đảng Dân Chủ miền Nam. Tướng Nathan Bedford Forrest (“grand dragon” đầu tiên của KKK) đã được mời phát biểu tại National Democratic Conference (DNC) hồi 1868. Các thành viên KKK đe dọa, đánh đập, và giết hại cử tri GOP (cả da đen lẫn da trắng) để đảm bảo chiến thắng cho các ứng cử viên pro-slavery Dân Chủ. Tại Louisiana, hơn 2.000 người bị giết, bị thương, hoặc bị tấn công chỉ trong vài tuần trước cuộc bầu cử tổng thống năm 1868. Tại một giáo xứ CG có đa số đăng ký Cộng Hòa là 1.071 phiếu, sau các vụ giết người này, không một cử tri GOP nào dám đi bầu. KKK công khai ép buộc cử tri bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ rồi cấp cho họ giấy chứng nhận để tránh bị giết lầm (cuối TK20 khéo léo hơn dùng hình thức “vote by mail” để giấu tay đếm phiếu gian lận). Đó không phải là bạo lực tự phát mà là “khủng bố” có tổ chức nhằm thao túng kết quả bầu cử để phục vụ trực tiếp cho lợi quyền của đảng Dân Chủ.

 Cái bóng của KKK không chỉ dừng lại ở thế kỷ XIX: Sen. Robert C. Byrd (D-W.Virginia), kẻ tại vị trong US Senate hơn 57 năm (dài nhất trong lịch sử Mỹ) chính là cựu thành viên tích cực KKK cuối cùng trong US Senate. Trong thập niên 1940, Byrd không chỉ gia nhập KKK mà còn tổ chức và lãnh đạo một chi bộ địa phương, được bầu làm “Exalted Cyclops” (chức vụ cao nhất của local KKK). Năm 1944, Byrd viết thư cho pro-slavery Sen. Theodore Bilbo, tuyên bố rằng ông ta “sẽ không bao giờ chiến đấu cạnh một người da đen trong US Army”. Năm 1964, Byrd đích thân “filibuster” Citizen Right Act suốt 14 giờ liên tục. Dù sau này Byrd miễn cưỡng gọi việc gia nhập KKK là “sai lầm lớn nhất đời tôi” để lòe cử tri da đen và dần chuyển sang ủng hộ dân quyền, sự thật vẫn là: Đảng Dân Chủ đã bầu và tái bầu một cựu lãnh đạo KKK cốt cán vào Thượng Viện suốt hơn nửa thế kỷ — từ năm 1959 cho đến khi Byrd qua đời năm 2010. Tại lễ tang, chỉ có đảng viên DC Barack Obama, Joe Biden và Bill Clinton đọc điếu văn phân ưu; phớt lờ thành tích kỳ thị chủng tộc và tội ác trong KKK của kẻ quá cố; miễn sao, kẻ đó phục vụ đắc lực lợi quyền của đảng.

 KKK không chỉ kỳ thị và dùng bạo lực với dân da đen và dân Jews, nó còn “target” dân Việt tỵ nạn cộng sản cũng tại thủ phủ Louisiana của nó: Người Việt tỵ nạn cộng sản ở Mỹ thành công trên nhiều lãnh vực nhờ sự hiếu học, đức tính kiên trì nhẫn nại, tinh thần đoàn kết cộng đồng và trọng lễ giáo trong gia đình. Nhưng một thành công khác rất bất ngờ; có lẽ do quen đối phó với chiến tranh súng đạn không ngừng nghỉ của lịch sử nước nhà và quen sống với nạn khủng bố gây chết chóc đau thương do kẻ thù Việt cộng – những kẻ hiếu chiến hiếu sát chiến đấu cho ngoại bang Nga, Tàu và chủ nghĩa bánh vẽ XHCN – gây ra như cơm bữa, nên người Việt – nói cách riêng giới ngư phủ Việt – với sự giúp sức của CQLB và GHCG Mỹ đã chiến thắng bọn KKK trong một cuộc đấu tranh không cân sức với tổ chức khủng bố khét tiếng kỳ thị này ngay tại lãnh địa thủ phủ miền nam của họ.

KKK là một tổ chức của người da trắng kỳ thị chủng tộc da đen và Jews. Nó chủ trương bạo động do 6 cựu binh thời nội chiến Mỹ lập ra (Đại úy John C. Lester, Th.Tá James R. Crowe, John D. Kennedy, Calvin Jones, Richard R. Reed và Frank O. McCord). KKK thành lập năm 1866 gồm 40 chi nhánh không có trung ương; hoạt động mạnh ở miền nam và trung tây nước Mỹ. Mặc dù CQLB đã liệt kê KKK là tổ chức khủng bố từ 1871, KKK vẫn phát triển mạnh với khoảng 6 triệu hội viên hồi đầu TK20. Con số này giảm còn khoảng 6,000 khi thế kỷ 21 bắt đầu.

Nạn nhân đầu tiên là người da đen; cả người da trắng (GOP và Dems anti-slavery) và viên chức CQLB thi hành luật pháp. Sau đó, danh sách có thêm người Do-thái, Công giáo, đồng tính và các sắc dân da màu khác. Tổ chức này chỉ bắt đầu yếu dần từ cuối thập niên 1990s và chuyển thành các nhóm nhỏ mang danh xưng khác như “Skinheads, Neo-Nazi groups ..vv.”. Do đó, giữa thập niên 1970s KKK còn rất mạnh và dân ngư phủ tỵ nạn Việt nghiễm nhiên trở thành nạn nhân mới nhất trong danh sách này:

Nhóm ngư phủ tỵ nạn đầu tiên ở Biloxi, Mississippi có gia đình ông “Ba Nguyễn” dân CG di cư 1954 từng hai lần phải bỏ ghe đánh cá hồi 1954 và 1975; nay tự đóng chiếc thứ ba để sinh nhai và tranh đấu để “được chấp nhận” như lời ông tâm sự với ký giả Harvey Arden của tạp chí National Geographic hồi năm 1980. Nhóm ngư phủ được tàu chiến Mỹ đưa đến Guam và được phân tán đi định cư nhiều nơi như Minnesota, Pensylvania . . . nhưng vì sợ khí hậu lạnh; quen sống tụ tập theo truyền thống và phải ở bờ biển miền nam nước Mỹ mới làm lại nghề đánh cá được, nên họ dời đến Biloxi, Louisiana. Mà đây lại là một lãnh địa của KKK lúc đó.

Chủ vựa tôm Richard Gollott ngồi trong văn phòng nhỏ của vựa “Cap’n Gollott Seafood” ở Back Bay, Biloxi nhớ lại hồi năm 1977, khi không tìm ra nhân công địa phương để lột vỏ nghiêu sò, ông đã thử lái xe đến New Orleans chở một tá người Việt ở đây và vô cùng ngạc nhiên vì chưa từng thấy ai hăm hở làm việc hăng say như vậy. Ông mời 2 gia đình Việt đông nhất đến ở để làm việc hầu tránh việc đưa rước đường xa. Thế rồi 2 gia đình này rủ thêm bạn bè đến đây ngày một đông; tạo thành một cộng đồng làng chài tỵ nạn Việt. Họ khôn ngoan không chịu lãnh lương giờ mà đòi lãnh theo sản phẩm thu hoạch nên có mức lương tương đương $6-$7/giờ, một thu nhập cao so với $2.5-$3.5/giờ thời điểm đó.

Vì đa số là dân bắc 1954 nên họ đã mời Lm Thắng đến làm công việc mà Môi-sen xưa đã làm là chăn dắt đoàn chiên ngoan đạo. Lm Thắng liền đến gặp GM Joseph Lawson Howze nhờ giúp đỡ và đã được giới thiệu đến Đức Ông Gregory Johnson của giáo xứ St Michael ở Biloxi. GM Howze giới thiệu rằng “các ngư phủ này là người CG rất rất ngoan đạo và Lm James (Cha Thắng) sẽ cai quản họ như ở VN trước đây. Hồi 1954 di cư vào Nam VN, cha James vừa học ở chủng viện Saigon vừa hành nghề lái taxi để sinh sống. Ông thụ phong linh mục năm 1956 rồi đi Vũng Tàu gây dựng nên họ đạo Phước Tĩnh”. Ký giả Arden khi nghe tiếng hát “thiên thần” vọng ra từ nhà thờ St Michael đã tò mò vào xem và được biết đang có thánh lễ hôn phối do Lm Thắng chủ lễ. Cô dâu là Nhung T. Nguyễn và chú rể là Lâm Thụy Nguyễn. Ông chỉ được Lm Thắng tiếp trong chốc lát vì không có hẹn và Cha bận phải đi dâng thánh lễ ở làng chài khác do nạn “lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”!

 Ngư phủ Việt thường trải lưới theo hướng Bắc-Nam thay vì Đông-Tây như ngư phủ Mỹ cho nên lưới thường bị vướng vào nhau gây cãi cọ. Họ cũng không hiểu cách thức cập bến và ý nghĩa của đèn báo hiệu cùng nhiều luật lệ khác mà nguyên nhân chính do bất đồng ngôn ngữ. Bà hiệu trưởng Susan Hunt của Gorenflo Elementary khen học sinh Việt giỏi toán, thủ công và học Anh ngữ mau hơn cha mẹ. Một nữ sinh Việt nhỏ bé 14 tuổi, mà ký giả Arden tưởng chỉ mới 8 tuổi, tâm sự từng chạy giặc VC nhiều lần ở VN, từng vượt biên với ghe nhỏ chứa 350 người đói khát và năm lần bị hải tặc Thái cướp bóc; nay lại bị bạn học Mỹ bắt nạt, chế giễu và đánh đập nhưng vẫn không bỏ học và nhún vai bảo “I don’t care”!

Bởi vậy cuộc đời tỵ nạn chưa kịp ổn định thì tai họa đã ập đến làng chài Empire ở Louisiana khi ngư phủ Mỹ địa phương than phiền có khoảng 35-40 ghe đánh cá của “VC, crooks” đến đây bắt tôm của họ và ngày càng dẫn theo nhiều ghe khác. Ở Biloxi MS cũng có than phiền tương tự cộng thêm mưa nhiều hồi tháng 4/1980 khiến mất mùa. Vụ nghiêm trọng nhất xảy ra hôm 3/8/1979 tại làng chài Seadrift, TX dân số hơn 1,000 người ở vịnh Galveston khi ngư phủ Nguyễn Văn Sáu 21t bắn chết Billy Joe Aplin 35t cao lớn nổi tiếng hay gây gổ và luôn để súng trong xe. Khi đến bót police trình diện, ông Sáu khai Aplin từng đe dọa, tấn công, phá ghe và trộm bẫy cua của người Việt. Cảnh sát biết nhưng không bao giờ can thiệp; để mặc Aplin đầu sỏ ngày càng lộng hành dù người Việt đã nhiều lần báo cáo xin bảo vệ. Hôm đó, Sáu đang ở trần hì hục kéo ghe thì bị Aplin đến đạp vào tay và ra lệnh “nếu bọn người Việt chúng mày không cút khỏi Seadrift, tao sẽ cắt cổ mày”! Sáu sợ hãi bỏ chạy liền bị hung thủ đâm 2 nhát dao vào ngực. Sáu cùng em là Nguyễn Văn Chính cố chạy đến nhà bạn mượn khẩu súng ngắn rồi trở lại bến tàu. Aplin vẫn còn đó liền nhào vào quật Sáu ngã xuống đất; buộc Sáu phải rút súng bắn vào ngực hung thủ khiến y rơi xuống nước và la lớn “Oh No, Man!”. Sáu không biết y có trúng đạn không và sợ y trở lên bờ tấn công nữa nên đã bắn bồi thêm một phát nữa khiến y chết dưới nước.

 Trong khi chờ tòa xử, căng thẳng Việt-Mỹ ngày càng tăng tại đây: 4 tàu đánh tôm của người Việt bị đốt, một nhà Việt bị ném bom. Giới nghiêm được ban hành từ 9pm. Đa số người Việt sợ bị tàn sát bèn chạy sang Houston TX hoặc Louisiana lánh nạn. Do đó, hãng cua hộp ở Seadrift phải đóng cửa vì thiếu công nhân. Bà B.T. Aplin, em của Billy Aplin đã hợp tác báo cảnh sát nên có 3 người da trắng bị bắt quả tang đang giữ thuốc nổ trong một phòng motel. Tuy vậy, người Việt tiếp tục bị kỳ thị với nhiều bảng “No Vietnamese Wanted” treo ở các bến, vựa; nhiều khẩu hiệu dán trên xe cộ như “Save your shrimp industry – Get rid of Vietnamese”. Ghe tôm người Việt không được cập bến. Vựa tôm không mua hàng của ngư phủ Việt và cả người da trắng mua tôm của người Việt cũng bị tẩy chay. Tình hình chưa kịp lắng dịu thì tòa án hôm 2/11/1979 đã tuyên bố tha bổng bị cáo Sáu và tòng phạm Chính vì lý do tự vệ chính đáng. Phán quyết này làm dân da trắng bất mãn khiến KKK nhảy vào vòng chiến. Sáu và Chính phải dọn đi khỏi Seafrift để tránh bị trả thù.

Cuối tháng 11/1979, KKK nộp đơn xin cho 600 hội viên (1/2 dân số của Seadrift) biểu tình chống người Việt tại đây nhưng bị bác đơn. Bố của Billy tuyên bố “hãnh diện có KKK đến giúp chận đứng làn sóng dân châu Á đến Seadrift”. Số dân Việt và Mễ ít ỏi còn lại (kể cả một số mới vừa quay lại đây sau khi bỏ đi trước đó) đã phải rời hẳn Seadrift. KKK lập đường dây xâm nhập vùng Galveston suốt một năm rưỡi để lập chiến khu gồm trại huấn luyện và lực lượng dân quân vũ trang; có BCH tại Santa Fe, TX, một town gồm toàn da trắng. HômValentine tháng 2/1981, 150 người da trắng đủ nam phụ lão ấu đã mặc đồng phục KKK biểu tình đốt thánh giá tại nhà người Việt, đốt hình nộm tàu “USS VietCong” và treo cổ hình nộm ngư phủ Việt hôm 15/3. Thủ lãnh KKK Texas là Louis Beam ra tối hậu thư cho CQLB hạn kỳ 90 ngày để cưỡng chế cấm người Việt đánh tôm trong vịnh Galveston; hoặc “KKK sẽ ra tay thi hành việc cưỡng chế này”! Beam tuyên bố “thời cơ đã điểm để ta giành lại đất nước này cho người da trắng . . . nếu muốn, ta sẽ giành lại bằng phương cách mà tổ tiên đã làm; đó là máu và máu”! Tại Seabrook có thêm 2 ghe đánh tôm của người Việt bị đốt.

Để giảm bớt tình hình căng thẳng này, CQLB và GHCG Mỹ đã phải ra tay can thiệp. TGM Philip Harman phạt “vạ tuyệt thông” các đầu sỏ CG kỳ thị trong vùng. Đại diện bộ Tư Pháp CQLB đến Seadrift điều tra; nhận thấy nguyên nhân mâu thuẫn phần lớn không hẳn do màu da mà do bất đồng ngôn ngữ; thế là, GHCG liền cung cấp một thông ngôn viên. TGM cũng cử một linh mục và phụ tá đến Seadrift để giảng hòa. Ngoài ra một phụ nữ da trắng làm ở restaurant nghe thực khách hội viên KKK bàn kế hoạch ném bom ghe đánh tôm của người Việt bèn về kể cho chồng; rồi ông chồng báo cho cộng đồng người Việt biết để đề phòng. CĐVN cũng đã trang bị vũ khí để tự vệ khiến vụ KKK bao vây để tấn công một khu trailer của người Việt bị thất bại từ trong trứng nước.

 Hội “Vietnamese Fishermen Association” thành lập tại đây đã nhờ “Southern Poverty Law Center” ở Montgomery, Alabama lập thủ tục nộp đơn kiện KKK hồi tháng 4/1981 vì bị cạnh tranh thương mại bất công. Quan tòa CQLB Gabrielle Kirk McDonald da đen đã ra phán quyết cấm KKK hoạt động tại vịnh Galveston, giải tán dân quân vũ trang KKK và đóng cửa trại huấn luyện quân sự KKK; tạo thuận lợi cho ngư phủ Việt ngày càng ổn định và thành công. Hầu hết chủ vựa tôm ở Galveston và 95% ngư phủ tại Port Arthur, TX là người Việt. Cuộc chiến tranh người Việt chống KKK đã kết thúc toàn thắng khi một cựu chiến binh Mỹ giấu tên từng tham chiến ở Việt Nam đã khuyên thủ lãnh KKK “Don’t mess with Vietnamese” vì họ từng trải chiến tranh suốt đời họ và chẳng coi súng đạn ra gì; họ sẽ chống trả quyết liệt và giết quý vị để tự vệ! Ngay cả một nữ sinh còm cõi 14 tuổi của Gorenflo Elementary ở Biloxi, bị bạn học da trắng cô lập, chế nhạo và đánh đập, cũng vẫn kiên trì bám trường và tuyên bố với ký giả Harvey Arden rằng “I don’t care”; huống hồ gì thế hệ cha mẹ ngư phủ dầy dạn bão tố của cô bé! Thế rồi, đạo quân khủng bố KKK khét tiếng nước Mỹ chỉ còn biết lặng lẽ khăn gói rút lui trong thất trận nhục nhã! Rồi thế hệ sau của ngư phủ “Ba Nguyễn” tại “chiến trường” Biloxi, anh Sonny Nguyễn cũng đã lặng lẽ chinh phục, “cua” lấy em Veronica da trắng làm vợ; sản sinh ra thế hệ thứ ba hợp chủng Christopher kháu khỉnh và khỏe mạnh; chủ nhân tương lai của kỹ nghệ tôm không đối thủ!

 Trở lại chính trường Mỹ Tk 21,  năm 2020 chứng kiến một làn sóng bạo loạn chưa từng thấy kể từ thập niên 1960s nói chung và thập niên 1970s – 1980s với nạn nhân ngư phủ Việt nói riêng. Sau cái chết của Georges Floyd dưới tay cảnh sát Minneapolis, phong trào Black Lives Matter được đảng DC ủng hộ đã tổ chức hàng ngàn cuộc biểu tình trên toàn quốc. Phần lớn các cuộc biểu tình (93-96%) diễn ra “ôn hòa” theo truyền thông tả phái. Nhưng phần còn lại — dù chỉ chiếm vài phần trăm (theo media tả phái) — đã gây ra thiệt hại khổng lồ: ước tính từ 1 đến 2 tỷ USD tiền bảo hiểm cho tài sản bị phá hủy; vượt qua kỷ lục của vụ bạo loạn Los Angeles năm 1992. Tại Portland, Oregon, bạo loạn diễn ra hơn 100 đêm liên tiếp. Hơn 2.000 cảnh sát bị thương. Ít nhất 25 người thiệt mạng liên quan đến các vụ này. Điều đáng chú ý là phản ứng của giới lãnh đạo đảng Dân Chủ. Thay vì dứt khoát lên án bạo loạn, nhiều chính trị gia DC tìm cách biện minh hoặc giảm nhẹ hậu quả. Các thị trưởng Dân Chủ tại nhiều thành phố lớn — Portland, Seattle, Minneapolis, New York City, LA, Chicago — bị chỉ trích vì không kiên quyết ngăn chặn bạo loạn; thậm chí còn ra lệnh cho cảnh sát rút lui. Một số công khai ủng hộ khẩu hiệu “Defund the Police” (cắt giảm ngân sách cảnh sát) ngay giữa lúc bạo lực đang leo thang. Phó TT Kamala Harris đảng DC đã công khai lập link quyên góp cho quỹ bảo lãnh tại ngoại nhằm giúp những kẻ cướp bạo loạn bị bắt trong các cuộc biểu tình được thả.

 Dù phong trào BLM không phải là tổ chức chính thức của đảng Dân Chủ (cũng như KKK trước kia không phải chi bộ chính thức của đảng này), nhưng mối quan hệ cộng sinh là rõ rang: Đảng Dân Chủ xem phong trào BLM như đồng minh chính trị; các lãnh đạo Dân Chủ quỳ gối, quàng  khăn “kente” trong US Capitol để mặc niệm tội phạm hình sự Georges Floyd ; và hàng triệu USD từ các nhà tài trợ của BLM chảy vào các chiến dịch tranh cử của đảng Dân Chủ. Khi bạo lực xảy ra dưới ngọn cờ của một phong trào được đảng bảo trợ, câu hỏi về trách nhiệm chính trị là không thể né tránh. Hôm 10/9/2025, Charlie Kirk, sáng lập viên tổ chức “Turning Point USA”, đồng minh thân cận của TT Trump và là một trong những tiếng nói bảo thủ có ảnh hưởng nhất với giới trẻ Mỹ đã bị bắn chết tại Đại học Utah Valley khi mới 31 tuổi. Một tay súng thiên tả ẩn nấp trên mái nhà cách xa 130 mét đã bắn một phát đạn trúng cổ Kirk trong khi anh đang diễn thuyết trước khoảng 3.000 sinh viên. Tyler James Robinson, 22 tuổi (từng gởi tiền tài trợ ứng cử viên đảng DC) bị bắt vào ngày hôm sau và bị truy tố tội giết người có chủ đích vì động cơ chính trị.

 Trước đó, chính Trump đã hai lần suýt bị ám sát trong năm 2024: Hôm 13/7, Thomas Crooks (cha mẹ khai y là employee của Biden FBI) bắn 8 phát đạn vào Trump tại cuộc vận động tranh cử ở Butler, Pennsylvania. Viên đạn (theo ý Trời) chỉ sượt qua vành tai phải của ông, giết chết một khán giả và làm bị thương nặng hai người khác. Hai tháng sau, hôm 15/9, Ryan Wesley Routh mang súng trường ẩn nấp tại CLB golf của Trump ở Florida; bị phát giác trước khi kịp nổ súng. Routh (người đã tài trợ cho các ứng cử viên Dân Chủ, bỏ phiếu trong cuộc bầu cử sơ bộ của DNC hồi 2024, và viết trên mạng xã hội rằng Trump “không xứng đáng làm bất cứ điều gì, huống chi là tổng thống Mỹ”) đã bị kết án tù chung thân.

  Gần đây nhất, hôm 25/4/2026, Cole Tomas Allen 31t từ Torrance, California mang súng ngắn, súng săn, và nhiều dao nhọn, đã vượt trạm security tại hotel Washington Hilton trong dạ tiệc thường niên dành cho “White House correspondents”, nơi TT Trump và phu nhân tham dự. TT Trump được mật vụ kéo khỏi sân khấu khi có tiếng súng nổ. Allen bị bắt tại chỗ và bị truy tố tội mưu sát tổng thống. Trong một tin nhắn gửi gia đình vài phút trước khi ra tay, Allen tự gọi mình là “friendly federal assassin” (sát thủ LB thân thiện) và bày tỏ loạt bất bình chống các chính sách của CQ Trump. Đây là lần thứ ba trong chưa đầy 2 năm, một tổng thống Mỹ đương nhiệm suýt bị ám sát, một mật độ bạo lực chính trị đầu Tk 21 chưa từng có trong lịch sử Mỹ hiện đại.

 Xếp các sự kiện này với nhau (từ chiếc gậy đầu vàng của Preston Brooks hồi 1856, đến khẩu súng của John Wilkes Booth 1865, đến những ngọn đuốc và dây thòng lọng của KKK thời Tái Thiết, đến Robert Byrd ngồi vững trong US Senate suốt hơn nửa thế kỷ, đến các đám cháy và cửa hàng bị cướp phá hồi 2020, đến viên đạn giết Charlie Kirk hồi 2025, và 3 lần ám sát hụt TT Trump [2024 – 2026]), một mô hình xuất hiện; tuy không “vơ đũa cả nắm”, nhưng cho thấy rằng, xuyên suốt lịch sử Mỹ, mỗi khi đảng Dân Chủ đối mặt với thách thức chính trị mà họ không thể chiến thắng bằng tranh luận (chế độ pro-slavery bị đe dọa, quyền lực thiên tả và marxist bị xói mòn, trật tự communist bị thách thức, đối thủ chính trị GOP ngày càng mạnh) thì bạo lực (hoặc sự dung túng cho bạo lực), đã xuất hiện như một phản ứng tái diễn liên tục.

 Hiện tượng từ chiếc gậy vỡ trong Senate 1856 đến viên đạn hèn mọn trên sân University 2025, khoảng cách 169 năm vượt lằn ranh xuyên thế kỷ vốn thừa chiều dài để minh chứng rằng khi lời tuyên truyền của đảng tham quyền không đủ mạnh thì bạo lực sẽ được đảng dùng thay thế; nấp dưới slogans “đao to búa lớn” nhân danh ô dù “constitution”, “no one is above the law”, “free bus tickets”, “free grocery”, “DEI policy”, “free rents”, “transgendering rights”, “no-gender public restrooms”, “peace”, “justice”, “democracy”, “mandate-vote by mail”, “no-ID for elections”, “đực rựa chuyển giới [fake] đấu nữ môn sports”… blab bla bla …

 HÀ BẮC

(tham khảo tài liệu của Harvey Arden, National Geographic và các tài liệu cập nhật khác)

 

 

No comments:

Post a Comment